1. Mức lãi suất đối với giao dịch dân sự theo luật ?

Thưa Luật sư, tôi có vay 40 triệu với kỳ hạn 3 năm và lãi suất là 5.9%/tháng. Như vậy có phải là vay nặng lãi hay không ?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

20%/năm tương đương với lãi suất 20:12= 1,67%/tháng. Như vậy mức lãi suất 5,9%/tháng của bạn là lãi suất cao hơn mức lãi suất tối đa theo quy định nên trên. Do đó mức lãi suất mà bạn phải chịu trên thực tế sẽ chỉ là 20%/năm, còn lại phần lãi suất vượt quá sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Thêm vào đó, Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng có quy định như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định nêu trên, nếu người cho vay cho bạn vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 5 lần trở lên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp của bạn, mức lãi suất mà bạn phải chịu tuy cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định nhưng chưa đến mức bị khởi tố hình sự. Cho nên, trong trường hợp này, nếu bạn khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án sẽ áp dụng mức lãi suất cho bạn cao nhất là 20%/năm mà thôi. Toàn bộ phần lãi suất cao hơn mức này bạn sẽ không phải chịu.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Lãi suất tái chiết khấu là gì ? Quy định về lãi suất tái chiết khấu

2. Mức lãi suất cho vay khi nào vi phạm quy định ?

Xin chào luật sư, tháng 9 năm 2014 tôi có vay bên bảo hiểm với số tiền là 78 triệu đồng cộng lãi suất tổng tôi phải trả 137 triệu đồng. Lãi suất ghi trong hợp đồng là 31.5%/năm. Như vậy bên cho vay có vi phạm về lãi suất theo quy định của nhà nước không?
Cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn vay tiền với lãi suất trong hợp đồng là 31.5%/ năm. Việc thỏa thuận mức lãi suất 31.5%/năm đã vượt quá 13,5%/năm nên trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Hiện tại, nếu bạn và người cho bạn vay không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

Về tội cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật hình sự, tại Điều 201 có quy định như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định của điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu sau đây:

- Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên. Mức lãi suất 31,5%/năm bạn phải thỏa thuận khi vay đã cao hơn 2.3333 lần so với mức lãi suất cao nhất được pháp luật cho phép là 13,5%/năm.

-Có tính chất chuyên bóc lột, tính chất này được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng có thể được thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Đối chiếu với các dấu hiệu trên, trường hợp của bạn chưa cấu thành tội cho vay nặng lãi, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 10 lần trở lên thì mới cấu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự. Hiện lãi suất bạn đang vay chỉ gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định 2.333 lần, cho nên phía cho vay không cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội

3. Lãi suất cho vay với học sinh, sinh viên ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về lãi suất cho vay đối với học sinh, sinh viên.

Luật sư phân tích:

Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp?

4. Thỏa thuận về mức lãi suất, lập hợp đồng cho vay như thế nào là hợp pháp ?

Chào Luật Sư, Em có vấn đề về luật rất mong Luật sư giúp đỡ tư vấn: Em có số tiền 1 tỷ cho người vay ký hợp đồng công chứng giữa cá nhân với cá nhân lãi suất 2%/tháng, và 1 hợp đồng cũng với số tiền 1 tỷ này ký lãi suất 1%/tháng không công chứng , nhưng người vay là Chủ tịch HĐQT của công ty cổ phần xây dựng, dùng mọc của cty ký và đóng dấu cty để vay.
Người vay là CTHĐQT không đứng pháp nhân công ty.mà đại diện pháp luật công ty là người khác. NHư vậy có vi phạm pháp luật không. Như vậy Em có đòi được tiền không và người vay có trách nhiệm trả lãi suất là 3% ko ? 2 hợp đồng được ký cùng ngày cùng tháng cùng năm. Khi có quyết định của toàn án và có Quyết định Thi hành án mà đối tượng không chịu trả thì em phải làm gì tiếp theo?
Hy vọng luật sư giúp em! Trân trọng cám ơn!
Người gửi: ngoc bao

Chào bạn, Thứ nhất, với câu hỏi đầu tiên của bạn, người đại diện pháp luật của công ty cổ phần không phải là chủ tịch hội đồng quản trị không vi phạm quy định của pháp luật. Vì nếu trong điều lệ của công ty không có quy định, thì người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần có thể là giám đốc hoặc tổng giám đốc sẽ là người đại diện theo pháp luật cho công ty

Thứ hai, bạn và công ty đã kí kết hai hợp đồng vay cùng số tiền là 1 tỷ đồng với lãi suất 1 hợp đồng là 2%/tháng, 1 hợp đồng là 1% trên tháng. Như vậy số tiền lãi mà công ty phải trả cho bạn là 3% trên tháng. Theo đúng như hợp đồng, thì công ty phải trả cho bạn 2 % của hợp đồng thứ nhất, 1 phần trăm của hợp đồng thứ 2. Bạn có quyền được đòi tiền lãi theo đúng thời hạn trả lãi suất theo hợp đồng.

Thứ 3, Trong trường hợp đến hạn trả lãi suất mà bên vay không trả, bạn có thể khởi kiện lên Tòa án nơi có trụ sở của công ty đó và nơi bạn sinh sống. Đối với trường hợp sau khi có quyết định thi hành án mà bên vay vẫn không chịu trả bạn có yểu yêu cầu Tòa án sử dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với công ty đó theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Chúc bạn vui và nhiều sức khỏe, Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhắn tin, gọi điện quấy rối đòi nợ của Home Credit có phạm luật ?

5. Bàn về vẫn đề lãi suất trong bộ luật dân sự ?

Một vài năm gần đây, vấn đề lãi suất trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Trước khi đi vào các vấn đề cụ thể, cần phải làm rõ và thống nhất một vấn đề chung nhất: mục tiêu của “vấn đề lãi suất” trong từng luật là gì?

Mục tiêu của Bộ Luật Dân sự: quy định lãi suất là để “chống cho vay nặng lãi”, tuy nhiên phạm vi điều chỉnh của luật này lại quy định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân… Vì vậy cả cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng đều được coi như nhau và áp dụng cơ chế như nhau.

Mục tiêu của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là: hoạt động ngân hàng phải tuân thủ theo nguyên tắc thị trường, mọi “giá cả” của hàng hoá tiền tệ được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Vì vậy hai luật này bắt buộc phải tuân theo tính thị trường của hoạt động ngân hàng, thể hiện trong việc hình thành lãi suất, tỷ giá… trên thị trường tiền tệ như Luật Chứng khoán đã thể hiện sự tôn trọng giá cả của các loại chứng khoán được hình thành trên quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường vốn, kể cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

Vì thế, Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước cần có những mục tiêu riêng biệt cho phù hợp với từng đối tượng. Sự ép buộc phải thực hiện theo một mục tiêu duy nhất của Bộ luật Dân sự khiến cho hoạt động của thị trường tiền tệ, hoạt động của ngân hàng không thuận lợi.

Bàn về vẫn đề lãi suất trong bộ luật dân sự

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Các quan điểm xung quanh Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

Hiện tại, có 3 luồng quan điểm chính xung quanh Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

không cần thiết sửa đổi Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 vì nguyên nhân của tình trạng huy động vốn, cho vay vốn của các tổ chức tín dụng trong thời gian qua vượt quá trần lãi suất không phải do bất cập của Điều 468 Bộ luật Dân sự, mà là do chưa thực hiện đúng quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước là phải công bố lãi suất cơ bản để làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Vì vậy, không cần thiết sửa đổi Điều 476 Bộ luật Dân sự 2015 mà chỉ cần Ngân hàng Nhà nước công bố theo định kỳ mức lãi suất cơ bản là đủ giải quyết các khúc mắc như hiện nay.

Quan điểm trên là phi thị trường và đã được xóa bỏ từ năm 2000 để hình thành lãi suất thỏa thuận dựa trên quan hệ cung cầu về vốn của thị trường, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thị trường, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO.

Chúng ta cũng không nên lo lắng rằng nếu không áp Bộ Luật Dân sự vào hoạt động của Ngân hàng thương mại thì họ sẽ cho vay nặng lãi. Bởi, trong nền kinh tế thị trường, nếu Ngân hàng thương mại nào cho vay nặng lãi thì sẽ chẳng có khách hàng nào đến vay. Quy luật cạnh tranh sẽ đào thải ngay Ngân hàng thương mại đó.

(MINH KHUE LAW FIRM: biên tập.)

>> Xem thêm:  Cầm đồ tài sản không chính chủ và trách nhiệm trả tiền thuộc về ai ? Kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Lãi suất bao nhiêu thì cấu thành nên hình sự về tội cho vay nặng lãi?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định của pháp luật thì người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (cụ thể từ 100%/năm trở lên) thì cấu thành nên hình sự.

Câu hỏi: Lãi suất vay trong giao dịch dân sự?

Trả lời:

Trong giao dịch dân sự thì các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay.

Câu hỏi: Căn cứ cấu thành nên hình sự về tội cho vay nặng lãi?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định của pháp luật thì người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (cụ thể từ 100%/năm trở lên); thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cấu thành nên hình sự.