Trả lời:

1. Quy định khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có phải chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong khoảng thời gian doanh nghiệp không đóng bảo hiểm thất nghiệp không ?

Trước tiên, cần làm rõ hai khái niệm:

“Trợ cấp thất nghiệp” là khoản tiền do cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền chi trả cho bất kỳ người lao động nào có đủ điều kiện được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 49 Luật Việc làm)

“Trợ cấp thôi việc” là khoản tiền mà người sử dụng lao động phải chi trả cho bất kỳ người lao động nào có đủ điều kiện được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động .

Như vậy khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động không có nghĩa vụ chi trả trợ cấp thăt nghiệp cho người lao động. Thay vào đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nào có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động đó sẽ được quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả trợ cấp thất nghiệp. Đối với khoảng thời gian không tham gia bảo hiểm thất nghiệp, người lao động sẽ được hưởng một khoản trợ cấp thôi việc do người sử dụng lao động chi trả nếu người lao động đáp ứng đủ các điều kiện được hưởng theo quy định của pháp luật.

 

2. Mức lương làm căn cứ để chi trả trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc.

Đối với trợ cấp thôi việc thì mỗi năm làm việc (với điều kiện là người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp đủ 12 tháng trở lên) người lao động sẽ được hưởng trợ cấp một nửa tháng tiền lương, nếu có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng thì được tính bằng nửa năm làm việc; trên 06 tháng thì được tính bằng 01 năm làm việc. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của người lao động theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc (căn cứ Điều 46.1 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 8.1 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/12/2020 và Điều 46.1 và 46.3 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 8.3 (c) Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/12/2020).

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng sẽ được tính bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kể trước khi người lao động thôi việc nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động nào thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lẩn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động nào đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Nguồn: https://phuoc-associates.com/