- 1. Khái quát quy định pháp luật về giám hộ
- 1.1 Giám hộ là gì?
- 1.2 Điều kiện để được làm người giám hộ là gì?
- 1.3 Ai được làm người giám hộ?
- 2. Thủ tục đăng ký giám hộ
- 3. Mức phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về đăng ký giám hộ
- 4. Điểm mới về Quản lý, thay đổi, chuyển giao người giám hộ (Bộ luật Dân sự 2015)
Căn cứ pháp lý:
1. Khái quát quy định pháp luật về giám hộ
1.1 Giám hộ là gì?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015, giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.
1.2 Điều kiện để được làm người giám hộ là gì?
Cũng theo Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân làm người giám hộ phải đáp ứng được những điều kiện sau:
- Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Theo Điều 49, Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
a. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
b. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
c. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.
d. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.”
- Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ
Theo Điều 50, Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Pháp nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
a. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.
b.. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”
1.3 Ai được làm người giám hộ?
Hiện nay, pháp luật chia người giám hộ thành 02 loại: giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử, chỉ định.
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên (mất cha, mẹ hoặc cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự…), được xác định theo thứ tự sau:
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;
- Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;
- Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ;
- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ;
- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
Người giám hộ được cử, chỉ định
Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Cho dù là giám hộ đương nhiên hay giám hộ được cử, chỉ định thì vẫn phải tiến hành làm thủ tục đăng ký giám hộ. Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.
2. Thủ tục đăng ký giám hộ
Giám hộ bao gồm hai loại là giám hộ cử và giám hộ đương nhiên. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ.
- Thủ tục đăng kí giám hộ cử
Theo Điều 20, Luật hộ tịch 2014 quy định:
a. Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
b. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
- Thủ tục đăng kí giám hộ đương nhiên
Theo Điều 21, Luật hộ tịch 2014 quy định:
a. Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên.
b. Trình tự đăng ký giám hộ đương nhiên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này.
Kết luận: Như vậy thủ tục đăng kí giám hộ được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ. Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ và các giấy tờ khác có liên quan để hoàn tất thủ tục đăng kí giám hộ.
Lưu ý:
- Người có yêu cầu đăng ký giám hộ trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc đăng ký giám hộ;
- Người thực hiện việc đăng ký giám hộ có thể trực tiếp nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc gửi đăng ký online;
- Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc.
3. Mức phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về đăng ký giám hộ
Mức phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về đăng ký giám hộ được quy định tại Điều 42 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký giám hộ.
- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký giám hộ;
b) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung đăng ký giám hộ.
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả của cá nhân để làm thủ tục đăng ký giám hộ.
- Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký giám hộ.
- Biện pháp khắc phục hậu quả:
Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi vi phạm quy định tại các hành vi:
+ Tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký giám hộ.
+ Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký giám hộ;
+ Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về nội dung đăng ký giám hộ.
4. Điểm mới về Quản lý, thay đổi, chuyển giao người giám hộ (Bộ luật Dân sự 2015)
Quản lí tài sản của người giám hộ
Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định vấn đề quản lý tài sản của người được giám hộ. Nhìn chung đối với việc quản lý tài sản đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không khác với quy định tại Điều 69 Bộ luật Dân sự cũ. Ở Bộ luật Dân sự 2015 có bổ sung thêm người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do đó Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung vấn đề quản lý tài sản tại khoản 2:
“Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này”.
Như vậy đối chiếu theo quy định này thì người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi tương tự của người giám hộ là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự.
Thay đổi người giám hộ
Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thay đổi người giám hộ, đối chiếu với Bộ luật Dân sự cũ, về cơ bản các trường hợp thay đổi người giám hộ không khác nhau. Tại Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung về người giám hộ là pháp nhân và người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Điểm b khoản 1 Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 đã có những bổ sung tương ứng:
“Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại”.
Chuyển giao người giám hộ
Điều 71 Bộ luật Dân sự cũ quy định chuyển giao giám hộ của người giám hộ được cử từ đây cho thấy việc chuyển giao người giám hộ đương nhiên không được quy định. Đây là một quy định không hợp lý vì nếu người giám hộ rơi vào các trường hợp dẫn đến phải thay đổi người giám hộ thì không có cơ chế pháp luật hướng dẫn. Lỗ hổng này đã được khắc phục tại Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chuyển giao giám hộ, không phân biệt hình thức giám hộ được chuyển giao là hình thức là gì, được hiểu là giám hộ đương nhiên và giám hộ cử đều có thể áp dụng quy định này. Điều này lại không phù hợp với hình thức giám hộ chỉ định bởi Tòa án đối với trường hợp với người được giám hộ là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này Tòa án sẽ lựa chọn áp dụng ương tự pháp luật bằng việc lựa chọn ra trong số những người giám hộ đương nhiên, nếu không có người giám hộ đương nhiên thì Tòa án thì tòa án chỉ định một cá nhân hoặc đề nghị một pháp nhân làm người giám hộ.
Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015 còn có điểm mới đó là bỏ quy định tại khoản 4 Điều 71 Bộ luật Dân sự cũ:
“Việc chuyển giao giám hộ phải được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ mới công nhận”.
Đây là một quy định không cần thiết bởi lẽ chế định giám hộ được đặt ra nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khan trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chính vì vậy, việc công nhận hay không công nhận việc chuyển giao giám hộ Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ mới là không cần thiết. Việc quy định này cũng làm cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thêm Uỷ ban nhân dân có thể làm chậm lại hoặc cản trở việc giám hộ.
(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)