Căn cứ theo Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 03 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Quy định cụ thể như sau:
Khoản 3 Điều 10 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động, ngược đãi người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cũng theo khoản 1 Điều 5 Nghị định này: Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm nêu trên là mức phạt đối với cá nhân, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn về vấn đề trên như sau:
1. Cưỡng bức lao động được hiểu là gì?
Trường hợp công nhân bị chủ lao động ép buộc, đe dọa họ làm những điều trái ý muốn được coi là hành vi cưỡng bức trong quan hệ lao động, theo đó: Cưỡng bức lao động được hiểu là việc người sử dụng lao động ép buộc người lao động làm việc vượt quá những thỏa thuận mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng lao động.
Trong Hiến pháp của nước Cộng hào xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nghiêm cấm cưỡng bức lao động, phân biệt đối xử và sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu (Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019)
Theo Điều 297 Bộ luật Hình sự 2015 (Được sửa đổi tại khoản 99 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định về tội cưỡng bức lao động, từ đó thấy được cưỡng bức lao động là người có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động
Cững căn cứ tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật Lao động 2019 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động bao gồm:
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động
2. Ngược đãi người lao động, cưỡng bức lao động;
Ngoài ra, tại Điều 165 Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định các hành vi nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động như sau: người lao động đều bị pháp luật nghiêm cấm
Điều 165. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động
1. Ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người giúp việc gia đình.
2. Giao việc cho người giúp việc gia đình không theo hợp đồng lao động.
3. Giữ giấy tờ tùy thân của người lao động.
Như vậy hành vi cưỡng bức dưới bất kỳ hình thức nào đều là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật. Trường hợp người sử dụng lao động vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định, cụ thể ở các mục trong bài viết dưới đây.
2. Xử phạt vi phạm đối với hành vi cưỡng bức người lao động.
2.1 Xử phạt hành chính:
Căn cứ tại các Điều 8, Điều 11, Điều 30, Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thì tùy từng hành vi và mức độ vi phạm mà người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền, cụ thể:
- Căn cứ tại khoản 3 Điều 8 Nghị định 12/2022/NĐ-CP đối với hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng.
- Căn cứ tại khoản 4 Điều 11 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
+ Cưỡng bức lao động hoặc ngược đãi người lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động
- Căn cứ tại khoản 4 Điều 30 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, hoặc dùng vũ lực đối với người lao động là người giúp việc gia đình
- Căn cứ tại điểm a khoản 9 Điều 42 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động.
- Căn cứ tại điểm a khoản 8 Điều 43 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột hoặc cưỡng bức lao động
- Căn cứ tại điểm a khoản 7 Điều 44 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 75.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động
- Căn cứ tại điểm a khoản 6 Điều 45 Nghị định 12/2022/NĐ-CP phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép hoặc bóc lột hoặc cưỡng bức lao động.
2.2 Xử lý hình sự đối với hành vi cưỡng bức lao động
Ngoài hình thức xử phạt hành chính, nếu người sử dụng lao động có các hành vi đạt đến mức cấu thành tội cưỡng bức lao động theo quy định tại Điều 297 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung bởi khoản 99 Điều 1 Luật sửa đổi Hình sự năm 2017, như sau:
Điều 297. Tội cưỡng bức lao động
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
4. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, người phạm tội cưỡng bức lao động có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào tính chất và mức độ phạm tội mà người sử dụng lao động sẽ bị truy cứu với mức phạt tù cao nhất lên đến 12 năm. Ngoài ra, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Người lao động làm gì khi bị ngược đãi, cưỡng bức?
Hành vi ngược đãi, cưỡng bức người lao động là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp này xảy ra nhưng khó bị phát hiện nếu như người lao động không lên tiếng để bảo vệ quyền lợi của mình. Vậy người lao động sẽ làm gì khi gặp trường hợp đó?
Trước tiên, khi phát hiện người sửa dụng lao động có những hành vi, lời nói mang tính xúc phạm, đe dọa, cưỡng bức hoặc ngược đãi người lao động có thể ghi âm, quay phim, chụp ảnh tạo bằng chứng, chứng cứ cho mình. Sau đó, người lao động làm đơn hoặc liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền để nhận sự giúp đỡ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình bị xâm hại. Cơ quan có quyền bảo vệ quyền lợi của người lao động như Công đoàn, Công an....Người lao động có thể khiếu nại, tố cáo đến công an nếu hành vi càng ngày càng xảy ra liên tục và gây hại nặng nề đến tinh thần, sức khỏe của người lao động.
Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước tỏng trường hợp bị ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi lăng mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị cưỡng bức lao động ngoài ra còn có một số trường hợp khác người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng nêu cụ thể tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, do tính chất là lao động yếu thế trong xã hội nên Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự đã quy định những điều cơ bản để bảo vệ người lao động khi bị rơi vào tình cảnh khó xử, bị cưỡng bức, ngược đãi mà họ khó lên tiếng. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào quy định pháp luật sẽ thay họ để xử lý những trường hợp vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê, nếu có vướng mắc liên quan đến bài viết, khách hàng gọi: 1900.6162 để được Luật sư hỗ trợ qua tổng đài trực tuyến.