1. Đâm chết người khi đang tham gia giao thông bị phạt thế nào ?

Thưa luật sư, Cho em hỏi: Em điều khiển xe máy gây tai nạn chết người cho người đi bộ. Em sẽ bị xử phạt ra sao ? Em đang đi trên đường ? Gặp người đang đi bộ qua đường. Người đó không để ý xe lưu thông trên đường. Mà đi tới giữa đường ngươi ấy không để ý mà quay đầu lại. Em đi tới và va vào người ta.
Nhưng em không ngã xe, mà người ta lằm bất tỉnh. Rồi mọi người đưa họ đi cấp cứu. Rồi tử vong.Trong trường hợp này, e sẽ bị su phạt thế nào ạ.. em là sinh viên.. bằng lái giấy tờ em đầy du.. e cũng ko vi phạm luật giao thông.. mong anh. Chị cho em biết. Em sẽ bị phạt thế nào a ?
Em xin chân thành cảm ơn,

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng
3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những
người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

Đối chiếu các quy định nêu trên với thông tin mà bạn cung cấp thì nếu bạn tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ thì bạn không có lỗi với tai nạn xảy ra.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Công an xử phạt lỗi vi chạy quá tốc độ nhưng không chứng minh lỗi vi phạm có đúng luật ?

2. Xử lý hình sự với người gây tai nạn giao thông ?

Theo quy định tại Bản sơ kết kinh nghiệm của Toà án nhân dân tối cao về đường lối xử lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn, thì: Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm phạm nền an toàn giao thông, một bộ phận của nền trật tự, trị an vốn thuộc loại tội khinh xuất. Đối với loại tội này, cần xác định chắc chắn là có hành vi phạm luật lệ giao thông, có hậu quả tác hại cụ thể do hành vi phạm tội gây nên. Đường lối xử lý đối với người phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được quy định như sau: “trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy đủ mọi tình tiết một cách toàn diện”. Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự mới), có nhiều thay đổi quan trọng về kết cấu điều luật, khung hình phạt, mức hình phạt liên quan.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vân:

1. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Căn cứ Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi là Bộ luật Hình sự mới):

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Kết cấu điều luật, khung hình phạt, mức hình phạt liên quan.

+ Về kết cấu của điều luật:

Điều 260 Bộ luật hình sự mới được xây dựng với kết cấu gồm 05 khung hình phạt. Trong đó khung hình phạt cơ bản thuộc khoản 1, khung hình phạt dành cho trường hợp phạm tội chưa đạt thuộc khoản 4 và khung hình phạt quy định về áp dụng biện pháp tư pháp ở khoản 5. Ở Bộ luật hình sự cũ, tình tiết định khung tăng nặng được phân thành các điểm ở khoản 2, các khoản còn lại không có điểm mà chỉ quy định điều kiện để áp dụng khung hình phạt nặng hơn. Điều 260 Bộ luật hình sự mới có 03 khung hình phạt, quy đinh các điểm (tình tiết) định khung, trong đó khoản 2 Điều 260 là có số tình tiết định khung nhiều nhất (7 điểm, từ điểm a đến điểm g), khoản 1 có 04 điểm và khoản 3 có 03 điểm. So với Điều 202 Bộ luật hình sự cũ thì số khung hình phạt của Điều 260 Bộ luật hình sự mới không thay đổi, nhưng so với Bộ luật hình sự 2015 thì số khung hình phạt ở Bộ luật hình sự mới giảm hơn 01 khung hình phạt.

Ngoài ra, điều luật mới thay đổi từ điều khiển giao thông thành từ tham gia giao thông. Đây là sự sửa đổi phù hợp với quy định của Luật giao thông đường bộ, đồng thời bao quát được các đối tượng vi phạm quy định do Luật giao thông đường bộ điều chỉnh (không chỉ có người điều khiển phương tiện).

+ Về mức hậu quả cấu thành tội phạm và mức hình phạt:

- Về mức hậu quả cấu thành tội phạm:

Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ (hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013) quy định mức hậu quả do vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra bị truy cứu trách nhiệm hình sự là:

– Gây thương tích cho một người từ 31% trở lên;

– Hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

– Hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

– Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

So với quy định của Điều 202 của Bộ luật hình sự cũ thì Điều 260 Bộ luật hình sự mới đã thay đổi quy định về mức độ hậu quả do vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm cơ sở để quy kết trách nhiệm hình sự. Cụ thể là gây ra một trong các hậu quả sau đây mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

Làm chết người;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Theo đó, điều luật mới loại bỏ mức độ hậu quả gây tổn thương cơ thể của 01 người dưới 61%, loại bỏ mức độ hậu quả tổn thương cơ thể của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này dưới 61% và loại bỏ mức độ thiệt hại vật chất dưới 100.000.000 đồng làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Đồng thời điều luật mới cũng loại bỏ quy định cộng chung mức độ thiệt hại kép về sức khỏe con người và vật chất như quy định ở điều luật cũ. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý là, khi chưa có thiệt hại xảy ra thì người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các điều kiện quy định tại khoản 4 của Điều 260 Bộ luật hình sự mới.

- Về hình phạt:

Điều 260 Bộ luật hình sự mới quy định hình phạt thấp nhất trong trường hợp tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra là phạt tiền 30.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù 01 năm; hình phạt cao nhất là phạt tù đến 15 năm. Như vậy, so với quy định của Điều 202 Bộ luật hình sự cũ thì mức hình phạt thấp nhất về phạt tiền (là hình phạt chính) tăng lên gấp 6 lần (từ 5.000.000 đồng lên 30.000.000 đồng) nhưng mức hình phạt cao nhất về hình phạt tù có thời hạn không thay đổi. Nhìn tổng thể về phần hình phạt thì quy định của Điều 260 Bộ luật hình sự mới so với quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự cũ là không có lợi cho người phạm tội đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0h00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018. Nhưng ở khía cạnh các yếu tố cấu thành tội phạm (trong chuyên ngành chúng ta gọi là khung cơ bản) thì Điều 260 Bộ luật hình sự mới quy định có lợi hơn cho người phạm tội so với Điều 202 Bộ luật hình sự cũ (kể cả trường hợp tội phạm chưa đạt – khoản 4). Do vậy, nếu xem xét mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra liên quan đến tội phạm này ở góc độ có tội hay không có tội thì căn cứ vào Điều 260 Bộ luật hình sự mới, nếu xem xét để quyết định hình phạt của bị cáo (trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm) thì áp dụng Điều 202 Bộ luật hình sự cũ đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0h00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự mới thì: Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Đối chiếu quy định này với khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thì mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt này là 05 năm tù, người phạm tội nếu bị xét xử ở khung hình phạt này thì thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng và lỗi do vô ý. Theo đó, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thì có thể họ được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự mới. Đây là quy định có lợi cho người phạm tội mà chúng ta cần phải chú ý khi áp dụng pháp luật đối với những hành vi phạm tội liên quan đến tội phạm này.

+ Những nội dung thay đổi ở từng khung hình phạt;

- Về khoản 1 của điều luật:

Về kết cấu, khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ không phân định các tình tiết định khung cơ bản, chỉ xác định mức độ hậu quả để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ là “gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác”, mức độ hậu quả này được hướng dẫn cụ thể tại các văn bản dưới luật sau đây:

– Tiểu mục 4.1. Mục 4 Nghị quyết 02/2003/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự quy định: “Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”.

– Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC -TANDTC hướng dẫn tại Điều 2 là: “Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thiết theo hướng xác định cụ thể định mức thấp nhất hậu quả thiệt hại làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gồm 04 mức tương ứng tại các điểm a, b, c, d khoản 1. Trong đó, điểm a là quy định về hậu quả xâm phạm tính mạng con người, điểm b, c quy định về hậu quả xâm phạm sức khỏe con người và điểm d là quy định hậu quả xâm phạm tài sản của người khác.

Đối chiếu quy định tại 4 điểm trong khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới với hướng dẫn tại các văn bản dưới luật đã viện dẫn trên thì thấy, điểm a và điểm d của điều luật mới là quy định pháp điển hóa hướng dẫn tại khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC. Trong đó mức độ hậu quả tại điểm a được giữ nguyên (làm chết người), mức độ hậu quả tại điểm d được giữ nguyên phần thiệt hại tài sản cao nhất (dưới 500.000.000 đồng), sửa đổi phần thiệt hại tài sản thấp nhất (từ 70.000.000 đồng lên 100.000.000 đồng).

Hai tình tiết định khung cơ bản còn lại quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới cũng được phiên từ hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC nhưng mức độ thiệt hại về sức khỏe con người có thay đổi theo hướng tỷ lệ tổn thương cơ thể một người bị tổn hại dưới 61% thì không truy cứu trách nhiệm hình sự và tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ dưới 61% cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Một thay đổi nữa trong khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới là mức hình phạt. Trong đó mức khởi điểm của hình phạt tiền tăng lên gấp 6 lần, mức cao nhất của phạt tiền tăng gấp 02 lần (từ 50.000.000 đồng lên 100.000.000 đồng); giữ nguyên mức hình phạt cải tạo không giam giữ; tăng mức khởi điểm của hình phạt tù có thời hạn từ 06 tháng lên 01 năm.

Cũng cần quan tâm là, các quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới so với khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 thì những nội dung cụ thể tại các điểm a, b, c đều bị sửa đổi, chỉ giữ nguyên quy định tại điểm d.

- Về khoản 2 của điều luật:

Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới được thiết kế theo mô tip của khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ nhưng bổ sung thêm 03 tình tiết định khung tăng nặng với phương pháp liệt kê cụ thể quy định “gây hậu quả rất nghiêm trọng” theo điểm đ Điều 202 Bộ luật hình sự cũ thành 03 tình tiết tại các điểm đ, e, g khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới. Mức độ hậu quả thiệt hại được ấn định ở các điểm đ, e, g khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới về bản chất là sự pháp điển hóa hướng dẫn tại khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC. Trong đó, điểm đ, g khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới là quy định giữ nguyên nội dung của các điểm a, e khoản 2 Điều 2 của Thông tư liên tịch 09/2013; còn lại mức độ hậu quả xâm hại sức khỏe của người khác quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới không giống với bất kỳ hướng dẫn nào tại các điểm còn lại thuộc khoản 2 Điều 2 Thông tư 09/2013, chỉ có một nội dung giống nhau mang tính nguyên tắc là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người (từ 02 người trở lên) trên 200% thì sẽ bị truy cứu trách hiệm hình sự ở khoản cao hơn (mức cũ theo Thông tư là từ 100% đến 200%, mức theo điều luật mới là từ 122% đến 200%).

Ngoài ra, hai tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại các điểm b và c của khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ được sửa đổi một số nội dung nhỏ tại quy định tương ứng của Điều 260 Bộ luật hình sự mới. Cụ thể, nội dung điểm b khoản 2 Điều 260 có thêm tình tiết “có sử dụng chất ma túy” vào trước cụm từ “hoặc các chất kích thích mạnh khác”; nội dung quy định tại điểm c đã loại bỏ cụm từ “gây tại nạn rồi” của quy định cũ – theo quy định cũ thì cụm từ “gây tai nạn rồi” này không có ý nghĩa thực tiễn cao vì bản chất điều luật đang điều chỉnh hành vi vi phạm luật giao thông đương bộ gây tai nạn hoặc có nguy cơ rõ ràng gây tai nạn với một mức độ hậu quả được ấn định cụ thể.

So với khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 thì khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới có thay đổi 03 nội dung tại các điểm c, e, g.

- Về khoản 3 của điều luật:

Khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự mới được thiết kế với 03 tình tiết định khung tăng nặng. Cách diễn đạt này có khác so với khoản 3 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ nhưng về bản chất thì những tình tiết định khung quy định tại các điểm a, b, c khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự mới là cách thức diễn giải chi tiết yếu tố định khung của khoản 3 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ là “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trong đó, điểm a và điểm c khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự mới là việc pháp điển hóa toàn bộ nội dung quy định tại điểm a, điểm g khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC. Riêng điểm b khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thì có thay đổi về mức độ hậu quả so với các điểm còn lại b, c, d, đ, e khoản 3 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC.

So với quy định tại khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, thì quy định mới (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bỏ 01 tình tiết định khung tăng nặng tại điểm b khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (từ 4 tình tiết định khung sửa thành 3 tình tiết định khung).

- Về khoản 4 của điều luật:

Khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự mới có ba nội dung thay đổi quan trọng so với khoản 4 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ.

Thứ nhất, nếu quy định về hậu quả có thể xảy ra tại khoản 4 Điều 202 của Bộ luật hình sự cũ là “đặc biệt nghiêm trọng” thì khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự mới liệt kê rõ các hậu quả có thể xảy ra thuộc các điểm a, b, c ở khoản 3 của điều luật này;

Thứ hai, khoản 4 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ không có hình phạt tiền, khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự mới quy định hình phạt tiền là hình phạt chính với mức từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;

Thứ ba, mức cao nhất tại khung hình phạt tù có thời hạn ở khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thấp hơn khoản 4 Điều 202 Bộ luật hình sự cũ 01 năm tù (mới là từ 03 tháng đến 01 năm; cũ là từ 03 tháng đến 02 năm);

Bộ luật hình sự mới bỏ khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, chuyển khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 thành khoản 4 Điều 260 Bộ luật hình sự mới và có sửa lại một số cụm từ cho phù hợp. Trong đó, có nội dung thay đổi chủ yếu là: Sửa đổi quy định “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác” thành qui định “có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này;

3. Một số điều lưu ý:

nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định rất rõ về điều kiện, trường hợp bị tịch thu giấy phép lái xe có thời hạn. Thế nhưng trong trường hợp người vi phạm pháp luật giao thông đường bộ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Điều 202 bộ luật hình sự cũ, Điều 260 Bộ luật hình sự mới không đề cập đến. Khoản 5 của các điều luật này quy định về “cấm đảm nhiệm chức vụ”. “cấm hành nghề”, “hoặc làm công việc nhất định”….Do vậy, thưc tiễn xét xử cho thấy mặc dù hậu quả vụ tai nạn xảy ra nghiêm trọng, người gây tai nạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được cho hưởng án treo hoặc được áp dụng hình phạt không phải tù có thời hạn thì đa số các bản án đều tuyên trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo, nhất là các bị cáo lái xe moto. Quyết định như vậy vô hình chung xử lý trách nhiệm của người lái xe vi phạm pháp luật hình sự không nghiêm khi so sánh với người lái xe vi phạm pháp luật hành chính bị tước bằng lái có thời hạn.

– Điều 2 và Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC quy định rất chi tiết các mức hậu quả đển xác định trường hợp nào là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó có sự tổng hợp giữa hậu quả tính mạng, sức khỏe con người với hậu quả về vật chất; và cũng có sự tổng hợp giữa hậu quả vừa liên quan đến tính mạng con người, vừa liên quan đến sức khỏe con người. Hướng dẫn này phần nào đã tháo gỡ các khó khăn trong thực tiễn áp dụng, đảm vảo các vụ việc với từng mức độ hậu quả gây ra khác nhau được xét xử công bằng hơn. Thế nhưng, Điều 260 Bộ luật hình sự mới đã không sử dụng hết các nội dung được hướng dẫn theo cách tính thiệt hại của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT – BCA – BQP – BTP – VKSNDTC – TANDTC, dẫn đến trên thực tiễn sẽ có nhiều trường hợp chênh nhau về mức độ chịu trách nhiệm hình sự, làm ảnh hưởng đến yếu tố công bằng khi xét xử.

Ví dụ: A lái xe vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn làm chết người và gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 120%, gây thiệt hại về tài sản 450.000.000 đồng. Theo đó, A bị xét xử theo các điểm a, c, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mới. Trong trường hợp vụ án đủ điều kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự mới thì có thể A được xem xét miễn trách nhiệm hình sự.

Trong khi đó B cũng lái xe vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả tổn hại sức khỏe cho 02 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 130% thì nhất định B bị xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới và không được phép miễn trách nhiệm hình sự đối với B theo khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự mới.

So sánh hai mức độ hậu quả của A và B gây ra và hai mức độ trách nhiệm hình sự A và B có thể bị áp dụng sẽ thấy rất rõ sự không công bằng, thiếu sức thuyết phục khi áp dụng quy định của Điều 260 vào thực tiễn.

– Tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới không được quy định ở khoản 3 của Điều luật này (kèm theo điều kiện gây ra hậu quả thuộc các điểm đ, e, g khoản 2 Điều 260). Điều đó sẽ tạo ra sự mất công bằng khi một người tham gia giao thông vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ, gây ra hậu quả thuộc khoản 1 nhưng vì thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 2 nên bị xét xử theo khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới. Tương tự như vậy, một người tham gia giao thông vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây ra mức hậu quả ở khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới (chết 2 người), và họ thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới thì cũng chỉ xét xử họ ở khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới (mặc dù biết rằng khi xét xử, hình phạt của người bị áp dụng nhiều tình tiết định khung tăng nặng bao giờ cũng cao hơn, nhưng điều này chỉ nhìn thấy rõ và thực hiện được nếu các bị cáo cùng xét xử trong một vụ án hoặc tại cùng một Tòa án).

Ví dụ: A không có giấy phép lái xe hợp lệ, lái xe vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả chết 01 người. A bị xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới với khung hình phạt tù tư 03 năm đến 10 năm.

B cũng không có giấy phép lái xe, lái xe trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn vượt mức quy định, vi phạm luật giao thông đường bộ, gây hậu quả chết 02 người. B cũng chỉ bị xét xử theo các điểm a, b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự mới với khung hình phạt từ 03 năm tù đến 10 năm tù.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

3. Tài xế container hất văng cảnh sát giao thông đối diện mức phạt như thế nào ?

Thưa luật sư, mới đây dư luận đang rất quan tâm đến vụ "Tài xế container hất văng cảnh sát giao thông" trên quốc lộ 1A bị khởi tố về hành vi chống người thi hành công vụ. Tôi cũng là một lái xe lâu năm tôi thấy bức xúc bởi lẽ:
1. Việc chống người thi hành công vụ nhiều khi cũng là do do anh em bị dồn nén về tâm lý (Một mày đối với anh Em chạy Bắc Nam như tôi phải qua cả 100 chốt cảnh sát giao thông, mà chốt nào cũng ....) nên khiến anh Em mất khiểm soát.
2. Một mặt tôi rất chia sẻ cảm xúc nhưng mặt khác Tôi không tán thành việc làm của tài xế này nhưng cũng rất muốn luật sư giải đáp rõ những quy định về hình sự và hành chính mà người tài xế này phải đối mặt để Anh Em làm nghề lái xe như chúng tôi được biết ?
Rất cảm ơn luật sư của Công ty luật Minh Khuê vì luôn hỗ trợ nhiệt tình Anh Em lái xe trong lĩnh vực giao thông và hình sự.
Xin cảm ơn!
(Người hỏi: Nguyễn Văn Phúc, Đồng Nai)

Luật sư tư vấn:

Theo những thông tin ban đầu từ báo chí thì người tài xế bị cơ quan điều tra khởi tố về tội danh chống người thi hành công vụ theo điều 330, bộ luật hình sự năm 2015 về tội chống người thi hành công vụ với quy định cụ thể:

Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, với tội danh này nếu bị truy tố theo khoản 1, điều 330 thì tài xế lái xe container đối diện với nguy cơ bị phạt cải tại không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Chúng tôi chưa nhận thấy các tình tiết định khung theo khoản 2, điều 330 như Có tổ chức, tái phạm... nên khả năng cao theo quan điểm cá nhân thì sẽ truy tố theo khoản 1 điều 330 của bộ luật hình sự năm 2015.

Cũng theo thông tin mới mà báo chí cung cấp thì người tài xế trên còn có hành vi dùng tên giả, dán ảnh của mình lên bằng lái xe hạng FC của người khác, hành vi này đối diện với 02 tội danh có thể bị cơ quan điều tra khởi tố thêm:

Tội danh thứ nhất, Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông dường bộ theo điều 260, bộ luật hình sự năm 2015

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo thông tin mà báo chí cung cấp thì người cảnh sát giao thông trên không tổn hại quá nghiêm trọng đến sức khỏe tuy nhiên nếu trong các trường hợp "gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên" thì đủ tình tiết cấu thành tội này. Như vậy, trong trường hợp không có bằng lái xe hạng FC mà vẫn cố tình làm giả giấy tờ để điểu khiển phương tiện thì bất kỳ trường hợp nào gây tổn hại sức khỏe cho người dân từ 61% trở lên hoặc gây chết người đều bị truy tố theo tội danh ngày. Các Anh Em tài xế phải hết sức lưu ý quy định này. Nói một cách dễ hiểu thì hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ như: Vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, sử dụng rượu/bia có nồng độ cồn vượt mức cho phép hoặc không có bằng lái xe ...mà gây tai nạn giao thông chết người (hoặc thiệt hại 61% sức khỏe) sẽ bị truy tố theo tội danh trên.

Tội danh thứ hai, Tài xế container có thể đối diện với nguy cơ bị khởi tố tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:

Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm;

đ) Thu lợi bất chính 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Trong trường hợp phát hiện tài xế sử dụng bằng giả, cơ quan điều tra phải xác minh nguồn gốc của bằng giả trên do đâu mà có. Người tài xế tự làm ra hay mua bằng giả để sử dụng. Khi xác minh rõ các tình tiết liên quan đến tài liệu kể trên thì cơ quan điều tra (Thủ trường cơ quan điều tra) có thể ra quyết định khởi tố thêm tội danh này với người tài xế xe container theo quy định của luật hình sự hiện hành. Nếu bị khởi tố theo khoản 1, điều 341 thì người tài xế đối diện với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài các nguy cơ về xử lý hình sự, người lái xe còn đối diện với việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo luật giao thông đường bộ và phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra theo luật dân sự, cụ thể:

+ Mức xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ vào các lỗi vi phạm như không có bằng lái xe; chạy quá tốc độ quy định; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; lạng lách đánh võng trên đường... Cơ quan cảnh sát giao thông căn cứ vào nghị định 100/2019/NĐ-CP để xử lý theo quy định của pháp luật. Mức xử phạt với các lỗi trên cũng không hề nhẹ nhàng chút nào - Rất mong anh Em làm nghề tài xế lưu ý.

+ Mức bồi thường thiệt hại theo luật dân sự: Những tổn hại về sức khỏe (viện phí, chi chi chạy chữa, chi phí chăm sóc, chi phí phục hồi sức khỏe) của đối tượng bị ảnh hưởng do hành vi vi phạm pháp luật người tài xế sẽ phải chịu khắc phục. Đây cũng là một gánh nặng khác đối với người tài xế container.

Trên đây là những tư vấn của Luật Minh Khuê về những rủi ro pháp lý mà tài xế xe container phải đối mặt khi vi phạm lỗi chống người thi hành công vụ, hy vọng giải đáp trên sẽ làm sáng tỏ được phần nào câu hỏi của Bạn và cung cấp các thông tin pháp lý cho Anh Em lái xe khác. Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực giao thông, hình sự hoặc dân sự vui lòng liên hệ trực tiếp với 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

4. Lái ô tô vi phạm luật giao thông gây tai nạn xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, Em xin chào Anh/Chị luật sư, Em muốn hỏi: Em đi xe ô tô gây tai nạn bị khởi tố là đi không đúng làn đường quy định. Em sẽ bị xử lý như thế nào và bao lâu thì Em được xóa án tích, về việc xóa án Em có phải làm thủ tục gì không?
Em xin cảm ơn!
Người gửi: Tan Nguyen

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc về chuyên mục của chúng tôi.

Bạn bị khởi tố về hành vi lái xe không đúng làn đường gây tai nạn giao thông, hành vi này được quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015:

Theo điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng
3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những
người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Hết thời hạn trên, án tích đương nhiên sẽ bị xóa, anh không cần phải làm thủ tục gì. Tuy nhiên, nếu anh muốn có giấy chứng nhận xóa án tích, anh có thể lên Tòa án nơi xét xử sơ thẩm để xin giấy xác nhận.

Chúc anh sớm giải quyết được vấn đề của mình

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn,

Theo như thắc mắc bạn đưa ra, chúng tôi cũng không biết cụ thể chi tiết được vụ tai nạn diễn ra như thế nào. Mức độ thiết hại ra sao, tỷ lệ thương tích như thế nào. Nhưng theo như ý bạn muốn hỏi, bạn vi phạm luật giao thông đường bộ và gây tai nạn chính vì vậy trường hợp của bạn sẽ được giải quyết theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015:

Về vấn đề xóa án tích phải phụ thuộc vào bạn vi phạm ở khung hình phạt như thế nào. Trường hợp của bạn sau khi chấp hành hình phạt thì sẽ đương nhiên xóa án tích.

Theo quy định tại Điều 64 như sau:

Điều 64. Đương nhiên được xoá án tích

Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1. Người được miễn hình phạt.

2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.”

Bạn cần làm hồ sơ như sau: Khi người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu cần cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì làm đơn (Mẫu), kèm các tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp; giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khỏan bồi thường, án phí, tiền phạt; giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú cấp (theo mẫu quy định của ngành Công an), bản sao hộ khẩu; bản sao chứng minh nhân dân.

Thẩm quyền xét đơn xin xóa án tích:

- Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận xóa án tích, hoặc ra Quyết định xóa án tích.

- Người xin xóa án tích nộp hồ sơ xin xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm (có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện).

- Người xin xóa án tích không phải nộp bất cứ khoản tiền lệ phí Tòa án nào (trừ trường hợp xin sao quyết định xóa án tích hoặc giấy chứng nhận xóa án tích).

Chúc bạn vui và nhiều sức khỏe Thân ái!

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông

5. Vô ý làm chết người khi tham gia giao thông?

Thưa Luật sư, chú tư vấn giúp cháu với ạ ! Em trai cháu 20 tuổi, đi bộ trên mép vỉa hè (đường 1 chiều) thì 1 chiếc xe đầu kéo vì lý do gì không biết nhưng đã lao lên vỉa hè kéo em trai cháu đi và lăn nó rồi lại vòng sang đâm vào dải phân cách làm gẫy cột đèn đường ,em trai cháu tử vong tại chỗ, thằng kia nó chạy.
Về sau nó có đến đầu thú và sau đó công ty của chiếc xe đó đến cũng không quan tâm gì đến cái xác, chỉ quan tâm đến chiếc xe của họ thôi. Sau đó cảnh sát giao thông đến làm việc, họ làm gì thì không biết. Lúc đó vì em trai cháu đi học ở thành phố, xa nhà hơn 60km, gia đình chưa kịp đến được, chỉ có đứa em gái trông xác em trai cháu giữa đường thôi. Đến sau này, khi gia đình đang lo hậu sự, bên gây tai nạn có đến nhưng gia đình nói không tiếp vì gia đình còn phải lo hậu sự không có tâm trí để nói đến việc đó. Tháng sau họ có đến trả tiền mai táng phí tổng 93triệu. Và không có bồi thường gì thêm về tính mạng hay gì cả, đến hôm qua tòa gọi điện cho gia đình cháu ra sáng nay ra thành phố để xét xử vụ án. Gia đình chưa chuẩn bị được gì, ra thì họ xét xử và tuyên là kia đền bù 73 triệu cho nhà cháu và kết luận người gây tai nạn là do buồn ngủ (nhưng trước đó, khi người kia gây tai nạn, có nghe nói nó dùng chất kích thích) bây giờ thì lại là do buồn ngủ.
Vậy nên chỉ bị phạt tù 12-18 tháng cải tạo không giam giữ, gia đình cháu cảm thấy không phục, có điều gì uẩn khúc ở đây mà không biết phải làm như thế nào. Mong luật sư tư vấn giúp cháu,cháu thật sự cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nếu gia đình bạn thấy bản án có vấn đề uẩn khúc, chưa rõ ràng hoặc chưa đúng quy định của pháp luật thì gia đình bạn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 BLTTHS với thủ tục và thời hạn như sau:

Thủ tục kháng cáo và kháng nghị

1. Người kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

Thời hạn kháng cáo, kháng nghị

1. Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

2. Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại tạm giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại tạm giam nhận được đơn."

Trong trường hợp có kháng cáo thì Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm sẽ là Tòa án nhân dân cấp tỉnh: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn sáu mươi ngày; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.

Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày mở phiên toà, Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án.”

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tự ý thay đổi màu sơn (kết cấu) của xe máy, mô tô bị xử phạt thế nào ?