1. Chăm sóc y tế
Điều 24 xác nhận quyền của mọi trẻ em được chăm sóc y tế và được hưởng trạng thái sức khoẻ ở mức độ cao nhất có thể được. Điều này gợi ý rằng, để bảo đảm quyền chăm sóc y tế của trẻ em, các quốc gia phải chú trọng đặc biệt tới các vấn đề như: dành sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho mọi trẻ em, trong đó chú trọng việc chăm sóc sức khỏe ban đầu; chăm sóc sức khỏe thích hợp cho bà mẹ trước và sau khi sinh; chống bệnh tật và suy dinh dưỡng; thông tin, giáo dục về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em; phát triển công tác phòng bệnh, hướng dẫn cha mẹ, cũng như các hoạt động giáo dục và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; xoá bỏ những tập tục có hại cho sức khỏe trẻ em... Liên quan đến Điều 24, Ủy ban quyền trẻ em đã có Bình luận chung số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 33 năm 2003, trong đó nêu ra nhiều khuyến nghị cụ thể về các biện pháp mà các quốc gia thành viên cần tiến hành để bảo đảm sức khỏe và sự phát triển của trẻ em. Theo Ủy ban, để bảo đảm sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ em, các quốc gia thành viên phải thực thi các nghĩa vụ bao gồm: (a) Tạo ra một môi trường an toàn và cảm thông cho trẻ em kể cả trong gia đình, nhà trường, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em và trong toàn xã hội; (b) Bảo đảm cho trẻ em được tiếp cận những thông tin cần thiết cho sức khỏe và sự phát triển của mình, kỹ năng sống và có cơ hội tham gia vào quá trình ra những quyết định ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em; (c) Bảo đảm cung cấp các phương tiện, hàng hóa và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm các dịch vụ hướng dẫn và các dịch vụ sức khỏe tinh thần và sức khỏe sinh sản, với chất lượng phù hợp cho trẻ em và các bậc cha mẹ; (d) Bảo đảm rằng, mọi trẻ em đều có cơ hội tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch, lên chương trình cho sự phát triển và sức khỏe của chính các em; (e) Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức lao động nguy hại thông qua việc loại bỏ tất cả các hình thức lao động trẻ em và điều chỉnh môi trường, điều kiện làm việc theo các tiêu chuẩn quốc tế; (f) Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức tai nạn, thương tích cố ý hoặc vô ý, kể cả những thương tích do bạo lực và tai nạn giao thông; (g) Bảo vệ các em khỏi mọi hủ tục truyền thống có hại như tảo hôn, giết trẻ em gái vì danh dự và cắt bộ phận sinh dục nữ; (h) Bảo đảm mọi trẻ em trong các nhóm đặc biệt dễ bị xâm hại được quan tâm bảo vệ thích đáng; (i) Thực thi các biện pháp phòng tránh những bất ổn về tinh thần và tăng cường sức khỏe tinh thần cho trẻ em.
2. Mức sống thích đáng và an sinh xã hội
Theo Điều 27, trẻ em có quyền có mức sống thích đáng để phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội. Trong việc bảo đảm quyền này cho trẻ em, cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm đầu tiên, tuy nhiên, Nhà nước phải có những chính sách và biện pháp thích hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ thực hiện nghĩa vụ này của họ, và trong trường hợp cần thiết, Nhà nước phải thực hiện những chương trình hỗ trợ và giúp đỡ vật chất, đặc biệt là về dinh dưỡng, quần áo và nhà ở, cho các bậc cha mẹ. Thêm vào đó, các quốc gia thành viên phải tiến hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng các bậc cha mẹ hay những người có trách nhiệm khác thực hiện nghĩa vụ của họ trong việc nuôi dưỡng con cái, cả khi họ ở trong nước hay ở nước ngoài. Gắn liền với quyền có mức sống thích đáng, Điều 26 CRC khẳng định trẻ em có quyền được hưởng các lợi ích từ an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội, đồng thời yêu cầu các quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp cần thiết để thực hiện đầy đủ quyền này của trẻ em phù hợp với pháp luật và nguồn lực sẵn có của nước mình. Liên quan đến các Điều 26 và 27, Ủy ban quyền trẻ em, trong Bình luận chung số 7 năm 2005 cho rằng, việc phải sống trong cảnh đói nghèo sẽ hủy hoại sức khỏe, quan hệ xã hội, lòng tự trọng, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội học hành và phát triển của trẻ. Chính vì vậy, Ủy ban khuyến nghị các quốc gia thành viên xây dựng và thực hiện các chiến lược làm giảm tình trạng đói nghèo ngay từ thời thơ ấu và trong suốt cuộc sống của trẻ em. Chiến lược như vậy cần sử dụng các biện pháp khác nhau, trong đó bao gồm cả những “chương trình trợ giúp vật chất” cho trẻ em và gia đình của các em, tuy nhiên, việc thực hiện quyền được an sinh, bao gồm cả bảo hiểm xã hội của trẻ em là yếu tố không thể thiếu (đoạn 26).
3. Giáo dục
Các Điều 28, 29 CRC ghi nhận quyền được giáo dục của trẻ em. Theo các điều này, các quốc gia thành viên phải bảo đảm giáo dục tiểu học là miễn phí, sẵn có và bắt buộc, đồng thời, phải khuyến khích phát triển những hình thức giáo dục ở bậc cao hơn là trung học và đại học làm cho những hình thức giáo dục này có sẵn và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận. Các điều này cũng quy định kỷ luật nhà trường phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của trẻ em; đồng thời, xác định mục đích của giáo dục là phải nhằm giúp trẻ em phát triển toàn diện cả về nhân cách, tài năng, thể chất, trí tuệ. Liên quan đến mục đích của giáo dục với trẻ em, trong Bình luận chung số 1 thông qua tại phiên họp lần thứ 26 năm 2001, Ủy ban quyền trẻ em cho rằng, mục đích của giáo dục đề ra trong CRC là nhằm phát triển tối đa khả năng về mọi mặt của trẻ em, bao gồm năng lực trí tuệ, sự tôn trọng các quyền con người, khả năng nhận biết và đánh giá, khả năng hòa nhập xã hội và duy trì quan hệ với người khác cũng như với môi trường tự nhiên (đoạn 1). Ủy ban cũng cho rằng, do các mục đích như vậy, giáo dục đã vượt ra ngoài môi trường nhà trường và phải lấy trẻ em làm trung tâm, nhằm trao quyền cho trẻ em thông qua việc phát triển năng lực, kiến thức, nhân phẩm, lòng tự trọng và sự tự tin của trẻ (đoạn 2)...
4. Trẻ em thiểu số và bản địa
Trẻ em thiểu số và bản địa thuộc vào các nhóm trẻ em được chú trọng đặc biệt trong CRC. Tính dễ bị tổn thương của các nhóm này chủ yếu thể hiện ở nguy cơ các em bị mất bản sắc văn hoá của cộng đồng mình. Vì vậy, Điều 30 nêu rằng, trẻ em thuộc các cộng đồng thiểu số hoặc bản địa có quyền hưởng nền văn hoá, theo tôn giáo và sử dụng ngôn ngữ riêng của cộng đồng mình. Để bảo vệ hiệu quả các quyền của trẻ em thiểu số và bản địa, cần tham chiếu các văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, trong đó đặc biệt là Công ước số 169 của ILO về các dân tộc bản địa (1989) và Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của các nhóm thiểu số về chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ và tôn giáo năm 1992.
5. Nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và sinh hoạt văn hoá
Nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và sinh hoạt văn hoá là những nhu cầu và hoạt động không thể thiếu để bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em. Điều 31 CRC thừa nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và có cơ hội tham gia vào các hoạt động văn hoá, nghệ thuật một cách bình đẳng. Do tính chất đa dạng và rộng lớn của nó, việc bảo đảm quyền này không chỉ gắn với trách nhiệm của các bậc cha mẹ, mà còn là trách nhiệm của các nhà trường, cộng đồng và nhà nước.
6. Bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế
Điều 32 quy định trẻ em có quyền được bảo vệ không phải làm những công việc nguy hiểm, có hại cho sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội hoặc ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ. Điều này yêu cầu nhà nước phải áp dụng các biện pháp để ngăn chặn tình trạng trẻ em bị bóc lột về mặt kinh tế, đặc biệt là ấn định tuổi tối thiểu cho việc tuyển dụng lao động, quy định thời gian làm việc và điều kiện lao động cũng như các hình thức xử phạt việc sử dụng lao động trẻ em. Để th ực hiện có hiệu quả Điều 32, cần thi ết phải tham chi ếu và vận d ụng hai công ước quan tr ọng nh ất c ủa ILO về lĩnh vực này, đó là Công ước s ố 138 về tu ổi lao động t ối thiểu (1973) và Công ước s ố 182 về hành động ngay lập t ức để xoá b ỏ nh ững hình th ức lao động trẻ em tồi tệ nh ất (1999).
7. Bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột, lạm dụng tình dục
Bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em là một trong những vi phạm nghiêm trọng nhất, xét về phương diện quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng. Do sự phát triển nhanh chóng của du lịch và công nghệ tin học cũng như sự lan tràn của văn hoá phẩm tình dục, tình trạng bóc lột, lạm dụng tình dục trẻ em trên thế giới trở nên ngày càng nghiêm trọng, dưới nhiều hình thức. Điều 34 yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột, lạm dụng tình dục, bao gồm việc lôi kéo, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bóc lột trẻ em làm mại dâm, sử dụng trẻ em trong biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm. Liên quan đến vấn đề trên, cần tham chiếu với Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em (năm 2000). Theo Nghị định thư này, buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động hay giao dịch nào do một người hay một nhóm người thực hiện nhằm chuyển giao một trẻ em cho một người hoặc một nhóm người khác để lấy tiền hoặc để nhận bất kỳ lợi ích nào khác; mại dâm trẻ em có nghĩa là việc sử dụng một đứa trẻ vào các hoạt động tình dục để lấy tiền hoặc để nhận bất kỳ lợi ích nào khác; khai thác tình dục trẻ em được hiểu là việc sử dụng trẻ em trong hoạt động mại dâm, trong những buổi trình diễn hoặc trong các văn hoá phẩm khiêu dâm.