- 1. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động có bắt buộc phải ký quỹ hay không?
- 2. Điều kiện của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động hiện nay
- 3. Các quy định về sử dụng và quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động
- 4. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động được trích khi nào?
1. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động có bắt buộc phải ký quỹ hay không?
Đoạn văn nêu rõ các quy định tại Điều 54 của Bộ Luật Lao động 2019 như sau:
- Các doanh nghiệp cho thuê lao động phải thành lập quỹ và được cấp Giấy phép hoạt động cho thuê lao động.
- Chính phủ quy định về việc thành lập quỹ, các điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động cho thuê lao động cùng danh mục công việc được phép cho thuê lao động.
Do đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lao động không chỉ cần đáp ứng điều kiện để được cấp giấy phép mà còn phải thực hiện việc thành lập quỹ tại một ngân hàng.
2. Điều kiện của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động hiện nay
Dựa trên quy định của Điều 21 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP về điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại công ty, có các điều sau đây:
- Người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, tham gia hoạt động cho thuê lại lao động, phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Là người quản lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020.
+ Không có tiền án tích.
+ Có thời gian trực tiếp làm chuyên môn hoặc quản lý trong lĩnh vực cho thuê lại lao động hoặc cung ứng lao động từ ít nhất 03 năm (36 tháng) trong khoảng thời gian 05 năm liền kề trước khi đề nghị cấp giấy phép.
- Doanh nghiệp cần thực hiện ký quỹ với số tiền là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Quỹ này sẽ được lưu trữ tại một ngân hàng thương mại của Việt Nam hoặc chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật tại Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng nhận ký quỹ).
Tổng cộng, để thành lập công ty cho thuê lại lao động, các doanh nghiệp cần tuân thủ quy định và thực hiện ký quỹ với số tiền là 2 tỷ đồng tại một ngân hàng được pháp luật Việt Nam công nhận.
3. Các quy định về sử dụng và quản lý tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động
(1) Sử dụng Tiền Ký Quỹ
Theo quy định tại điểm 2 của Điều 15 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về việc sử dụng tiền ký quỹ như sau:
Tiền ký quỹ được sử dụng cho các mục đích sau:
+ Thanh toán tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các chế độ khác đối với người lao động thuê lại theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho thuê lại.
+ Bồi thường cho người lao động thuê lại trong trường hợp doanh nghiệp cho thuê lại vi phạm hợp đồng lao động với người lao động thuê lại hoặc gây thiệt hại cho người lao động thuê lại do không bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thuê lại.
(2) Quản lý Tiền Ký Quỹ
Theo quy định của Điều 17 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về quản lý tiền ký quỹ:
- Ngân hàng nhận ký quỹ có trách nhiệm phong tỏa toàn bộ số tiền ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê lại và quản lý theo quy định của pháp luật về ký quỹ.
- Ngân hàng nhận ký quỹ thực hiện các chức năng sau đối với doanh nghiệp cho thuê lại:
+ Rút tiền ký quỹ theo quy định tại Điều 18 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
+ Trích tiền ký quỹ theo quy định tại Điều 19 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
+ Yêu cầu doanh nghiệp cho thuê lại nộp bổ sung tiền ký quỹ theo đúng quy định tại Điều 20 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
- Ngân hàng nhận ký quỹ không được phép cho doanh nghiệp cho thuê lại rút tiền ký quỹ trước khi có sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
4. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động được trích khi nào?
Theo quy định của Điều 19 trong Nghị định 145/2020/NĐ-CP về việc trích tiền ký quỹ khi doanh nghiệp cho thuê không thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động thuê lại, các quy trình được mô tả như sau:
- Sau khi đã trôi qua 60 ngày kể từ ngày đến hạn mà doanh nghiệp chưa tiến hành thanh toán các chế độ và quyền lợi cho người lao động theo quy định tại khoản 2 của Điều 15 Nghị định, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ phát đi văn bản yêu cầu doanh nghiệp cho thuê lại thực hiện thanh toán. Trước khi tiến hành bất kỳ hành động nào, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ thảo luận với cơ quan bảo hiểm xã hội và các cơ quan tổ chức liên quan khác.
Nếu sau 10 ngày kể từ ngày có văn bản yêu cầu mà doanh nghiệp cho thuê lại không thực hiện thanh toán và không có văn bản đề nghị rút tiền ký quỹ để thanh toán chế độ cho người lao động, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ chuyển vụ việc lên cấp tỉnh và đề xuất rút tiền ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê lại để thanh toán các chế độ và quyền lợi cho người lao động thuê lại theo các bước sau:
+ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội yêu cầu doanh nghiệp cho thuê lại báo cáo về số lượng và danh sách người lao động, cũng như số tiền chưa thanh toán và bồi thường cho từng người lao động. Trong khoảng thời gian 05 ngày làm việc từ ngày nhận được yêu cầu, doanh nghiệp phải hoàn thành báo cáo. Sau đó, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ tổng hợp và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về việc trích tiền ký quỹ để thanh toán chế độ cho người lao động.
+ Trong khoảng thời gian 05 ngày làm việc từ ngày nhận được đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định trích tiền ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê lại, và quyết định này sẽ được thực hiện theo Mẫu số 03/PLIII Phụ lục III điều động kèm theo Nghị định.
+ Trong thời hạn 07 ngày làm việc từ ngày nhận được quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ngân hàng sẽ thực hiện trích tiền ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê lại và trực tiếp chi trả cho người lao động theo danh sách được quyết định. Trước khi chi trả, ngân hàng sẽ trừ đi các chi phí dịch vụ. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp cho thuê sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên, bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các chế độ khác đối với người lao động thuê lại theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy và quy chế của doanh nghiệp cho thuê lại.
- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đảm nhận trách nhiệm giám sát quá trình thực hiện thanh toán và bồi thường cho người lao động thuê lại theo quy định tại khoản 1 của Điều này, đồng thời phải báo cáo kết quả thực hiện đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Do đó, việc trích tiền ký quỹ sẽ xảy ra khi doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động cho thuê lao động, không thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động thuê lại, bao gồm:
- Không thanh toán đầy đủ tiền lương và các chế độ bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm bệnh nghề nghiệp, và các chế độ khác đối với người lao động thuê lại theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy và quy chế của doanh nghiệp cho thuê lại.
- Không thực hiện bồi thường đối với người lao động thuê lại trong trường hợp doanh nghiệp cho thuê lại vi phạm hợp đồng lao động với người lao động thuê lại hoặc gây thiệt hại cho người lao động thuê lại do không bảo đảm đúng quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thuê lại.
Bài viết liên quan: Một số tiêu chí cơ bản phân biệt hình thức cho thuê lại lao động và hoạt động dịch vụ việc làm
Trên đây là nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về quy định về mức tiền ký quỹ khi mở công ty cho thuê lại lao động. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!