1. Tại sao phải khai báo Hải quan khi xuất nhập cảnh?
Khi bạn xuất nhập cảnh vào một quốc gia, cần phải khai báo với hải quan vì có một số lý do quan trọng sau:
Kiểm soát hàng hóa và người: Quy trình khai báo giúp các cơ quan hải quan kiểm soát hàng hóa và người nhập cảnh, đảm bảo rằng không có hàng hóa cấm, nguy hiểm hoặc bất hợp pháp được mang vào quốc gia.
Thuế và lệ phí: Hải quan thường đặt ra các mức thuế và lệ phí nhập cảnh, và việc khai báo hàng hóa giúp xác định số tiền bạn phải trả.
Thống kê thương mại: Quy trình khai báo cung cấp thông tin quan trọng về hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu, giúp quốc gia theo dõi và thống kê về thương mại quốc tế.
Bảo vệ động và thực vật: Hải quan có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của các loài động và thực vật gây hại, bệnh dịch và dơi bảo vệ môi trường.
An ninh quốc gia: Việc khai báo cũng có thể liên quan đến an ninh quốc gia, đặc biệt là để kiểm tra và đảm bảo rằng không có vũ khí, hàng hóa nguy hiểm hoặc người đe dọa an ninh quốc gia được mang vào.
Điều kiện pháp lý: Không tuân thủ quy định về khai báo và xuất nhập cảnh có thể dẫn đến hậu quả pháp lý và sự xử lý hình sự.
Tóm lại, việc khai báo với hải quan khi xuất nhập cảnh là quy trình quan trọng để đảm bảo an toàn và tuân thủ quy định của quốc gia đó, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc gia và thu thuế cho nguồn thu ngân sách quốc gia. Việc tuân thủ quy trình này là cách duy nhất để đảm bảo rằng bạn không vi phạm luật và quy định của quốc gia đó khi nhập cảnh hoặc xuất cảnh
2. Mức tiền mặt phải khai báo Hải quan cửa khẩu khi xuất nhập cảnh
Theo Điều 2 của Thông tư 15/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định về việc khai báo mức tiền mặt, ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt khi xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam như sau:
Cá nhân khi xuất cảnh hoặc nhập cảnh thông qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam và mang theo tiền mặt, ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam tiền mặt phải tuân theo các mức quy định sau đây và thực hiện khai báo với Hải quan cửa khẩu:
- Nếu bạn mang theo tiền mặt, ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam tiền mặt có giá trị vượt quá 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc tương đương với các loại ngoại tệ khác, hoặc vượt quá 15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam), bạn phải khai báo với Hải quan cửa khẩu.
- Nếu bạn mang theo tiền mặt, ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam tiền mặt dưới mức 5.000 USD hoặc tương đương với các loại ngoại tệ khác và bạn có nhu cầu gửi số tiền tiền mặt này vào tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối, bạn cũng phải khai báo với Hải quan cửa khẩu. Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh sẽ có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số tiền tiền mặt bạn mang vào, và đây sẽ là cơ sở để tổ chức tín dụng được phép tiến hành việc gửi tiền mặt này vào tài khoản thanh toán.
Nên lưu ý rằng mức tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt được quy định phải khai báo với Hải quan cửa khẩu như trên không áp dụng đối với các cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam tiền mặt như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác
3. Giấy tờ xuất trình cho Hải quan cửa khẩu khi xuất cảnh phải khai báo
Các giấy tờ xuất trình cho Hải quan cửa khẩu khi cá nhân xuất cảnh và phải khai báo theo quy định của Thông tư 15/2011/TT-NHNN như sau:
Cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Thông tư 15/2011/TT-NHNN hoặc vượt số tiền tiền mặt đã khai báo với Hải quan cửa khẩu khi nhập cảnh lần gần nhất, phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu một trong các giấy tờ sau đây:
Giấy xác nhận (được cấp bởi tổ chức tín dụng được phép) về việc mang ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài, tuân theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
Văn bản chấp thuận (cấp bởi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài.
Cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định tại Điều 2, Khoản 1 của Thông tư 15/2011/TT-NHNN, nhưng không vượt quá số tiền tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất, không cần phải có Giấy xác nhận hoặc Văn bản chấp thuận. Tuy nhiên, cá nhân này phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất.
Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất chỉ có giá trị cho cá nhân khi họ xuất cảnh lần tiếp theo trong vòng 12 tháng kể từ ngày ghi trên Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh
4. Thẩm quyền cấp giấy chấp thuận cho người Việt Nam mang tiền mặt ra nước ngoài
Thẩm quyền cấp giấy chấp thuận cho người Việt Nam mang tiền mặt ra nước ngoài được quy định rõ trong Điều 5, Khoản 1 của Thông tư 15/2011/TT-NHNN. Theo quy định này, quyền cấp giấy chấp thuận hoặc giấy xác nhận cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài thuộc về các cơ quan sau:
Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc người được ủy quyền trong tổ chức tín dụng được phép: Trong trường hợp cá nhân cần mang ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài cho các mục đích quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 của Điều 8 của Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ về chi tiết thi hành Pháp lệnh ngoại hối, tổ chức tín dụng được phép có thẩm quyền cấp giấy xác nhận cho cá nhân này. Giấy xác nhận này sẽ cho phép cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài. Quyền cấp giấy xác nhận này nằm trong phạm vi quy định của pháp luật và phù hợp với các quy định cụ thể của tổ chức tín dụng được phép.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN): Trong các trường hợp ngoại lệ hoặc khi không áp dụng quy định tại Khoản 1 (điểm a) của Thông tư 15/2011/TT-NHNN, NHNN có thẩm quyền xem xét và chấp thuận bằng văn bản cho cá nhân có nhu cầu mang ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài. Quyết định của NHNN dựa trên tình hình cụ thể và tính cần thiết của từng trường hợp.
Như vậy, thẩm quyền cấp giấy chấp thuận cho người Việt Nam mang tiền mặt ra nước ngoài đôi khi thuộc về tổ chức tín dụng được phép và đôi khi là quyền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Quyết định về việc cấp giấy xác nhận hoặc giấy chấp thuận sẽ dựa trên nhu cầu cụ thể của cá nhân và sự tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối và xuất nhập cảnh.
Tổ chức tín dụng được phép có các trách nhiệm sau đây:
- Xác định rõ và quy định cụ thể các loại giấy tờ bắt buộc để chứng minh mục đích và số lượng ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt mà cá nhân mang ra nước ngoài. Họ cũng phải thiết lập quy trình xem xét, kiểm tra chứng từ, và cấp Giấy xác nhận cho cá nhân.
- Tuân thủ quy định của pháp luật và cân nhắc mức độ hợp lý dựa trên nhu cầu cụ thể của từng mục đích khi cấp Giấy xác nhận cho số ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt cá nhân mang ra nước ngoài. Trong trường hợp không cấp Giấy xác nhận, họ cần có văn bản trả lời trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị cùng hồ sơ hợp lệ.
- Đảm bảo việc lưu giữ đầy đủ chứng từ theo quy định của pháp luật. Hướng dẫn khách hàng về các thủ tục liên quan đến chứng từ và yêu cầu khách hàng tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các giao dịch mà họ đã thực hiện.
Những trách nhiệm này giúp đảm bảo tính minh bạch, tuân thủ pháp luật và quy định hợp lý khi các cá nhân xuất nhập cảnh và thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại tệ tiền mặt hoặc đồng Việt Nam tiền mặt.
Trên đây là toàn bộ nội dung về "Mức tiền mặt phải khai báo Hải quan tại cửa khẩu khi xuất nhập cảnh". Nội dung mang tính chất tham khảo, trường hợp nội dung gây nhầm lẫn, thiếu sót khách hàng có thể gọi lên tổng đài 19006162 để được hỗ trợ.