Vậy xin hỏi mức trợ cấp thôi việc của tôi thực lãnh phải là 4 200 000 hay 5 205 000? Đã 5 tháng kể từ ngày tôi thôi việc, sau nhiều lần viết mail nhắc, công ty vẫn chưa chi trả, tôi muốn khiếu nại thì đến cơ quan nào? Tôi lo lắng nếu công ty phá sản thì sẽ không có cơ hội đòi lại quyền lợi nữa.
Vì vậy, xin nhờ công ty Luật Minh Khuê tư vấn sớm giúp tôi.
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của Công ty luật Minh Khuê.
>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Căn cứ pháp lý:
Bộ luật lao động số 10/2012/QH13
Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động
Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội : Sửa đổi, bổ sung một số
2. Nội dung trả lời
Thứ nhất mức trợ cấp bạn có thể được lãnh khi đã nghỉ việc làm
Theo Điều 48 Luật lao động 2012 có quy định:
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
Theo Điều 2. Sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH như sau:
“3. Cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc:
a) Công thức tính trợ cấp thôi việc ở từng doanh nghiệp:
| Tiền trợ cấp thôi việc | = | Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc | x | Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc | x | 1/2 |
Trong đó:
- Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau:
Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng làm tròn thành 1/2 năm;
Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 01 năm.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015 NĐ-CP nghị định hướng dẫn về thi hành các điều thuộc Luật lao đọng có quy định:
3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:
a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;
b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;
c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.
Như vậy, theo những thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi thì bạn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty theo Khoản 3 Điều 36 Luật lao động 2012
"3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Và thời gian bạn làm việc thực tế của bạn cho công ty bao gồm thời gian thử việc và thời gian bạn làm việc cho công ty. Theo đó, bạn thử việc từ ngày 15/1/2013 và bạn làm việc chính thức từ ngày 1/4/2013 và ngày làm việc cuối cùng của bạn tại công ty là ngày 31/7/2014. Như vậy thời gian làm việc thực tế của bạn là trên 18 tháng tức nên theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì được tính là hai năm làm việc.. Tuy nhiên bạn lại không nói rõ rằng bạn có đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không, hoặc nếu đóng thì thời gian đóng là nhưu thế naò, nên chúng tôi không có đủ dữ kiệu để tính cho bạn "tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc" từ đó không thể tính cho bạn được mức trợ cấp thôi việc mà bạn sẽ nhận được. Nhưng từ những quy định pháp luật vừa viện dẫn, bạn hoàn toàn có thể tính được mức trợ cấp thôi việc mà bạn được hưởng khi bạn nghỉ việc tại công ty, và lưu ý bạn rằng tiền lương để tính trợ cấp thất nghiệp là là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, cụ thể trong trường hợp của bạn là 4 200000 nghìn đồng.
Thứ hai,đối với khoản tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt HĐLĐ với Công ty , mà bạn chưa được Công ty này chi trả, bạn có thể trực tiếp liên hệ, hoặc yêu cầu công ty chi trả trợ cấp thôi việc cho thời gian hơn 18 tháng mà bạn đã làm việc tại Công ty này.Nếu vẫn không được trả lời thỏa đáng, thì:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau:
“Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm;
c) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.
6. Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động”.
Trường hợp của bạn công ty đã vi phạm thời hạn thanh toán trợ cấp thôi việc cho chị, vì vậy bạn sẽ gửi đơn khiếu nại đến Phòng Lao động thương binh xã hội huyện nơi công ty bạn có trụ sở.
Trường hợp công ty vẫn không trả trợ cấp cho bạn thì chị có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện nơi công ty bạn có trụ sở.
Lưu ý: Nếu như công ty đã đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn thì công ty không có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc bạn mà sẽ do Bảo hiểm xã hội chi trả bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm năm 2013
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê