1. Khái niệm vô ý làm chết người

Vô ý làm chết người là hành vi của một người làm cho người khác bị chết với lỗi vô ý, có nghĩa là người thực hiện hành vi gây hậu quả chết người do không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước được, hoặc tuy biết hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Năm điểm đáng chú ý khi phân tích tội vô ý làm chết người?
(Ảnh minh họa)

2. Tội vô ý làm chết người được quy định như thế nào?

Điều 128. Tội vô ý làm chết người
1. Người nào vô ỷ làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

3. Bình luận về tội vô ý làm chết người

Điều luật gồm 2 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội vô ý làm chết người; khoản 2 quy định trường hợp phạm tội tăng nặng.

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội vô ý làm chết người được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.2 Mặt khách thể của tội phạm:

Tội phạm xâm phạm quyền sống của con người.

3.3 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người được quy định là hành vi làm chết người. Hành vi này được hiểu là hành vi gây ra cái chết cho con người do vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ cho con người. Những quy tắc này thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hoá hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường, mọi người đều biết và thừa nhận.
Do tính chất đa dạng của các quy tắc an toàn đến tính mạng, sức khỏe nên hành vi vi phạm quy tắc an toàn trong một số lĩnh vực cụ thể được quy định thành các tội danh riêng của lĩnh vực đó như lĩnh vực giao thông, lĩnh vực an toàn lao động V.V.. Hành vi làm chết người do vi phạm quy tắc an toàn giao thông được quy định thành các tội danh riêng tại các điều 260, 267, 272... BLHS; hành vi làm chết người do vi phạm quy tắc an toàn lao động được quy định thành tội danh riêng tại Điều 295 BLHS. Trong các quy tắc an toàn, có các quy tắc nghề nghiệp và các quy tắc hành chính và hành vi làm chết người do vi phạm một trong các quy tắc này cũng được quy định thành tội danh riêng (Điều 129 BLHS). Việc quy định thành nhiều tội danh khác nhau như vậy là nhằm đảm bảo sự phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như tính thống nhất trong xử lý trách nhiệm hình sự của từng lĩnh vực.
Như vậy, hành vi làm chết người do vi phạm quy tắc an toàn chỉ bị coi là hành vi của tội vô ý làm chết người khi hành vi đó chưa được quy định là hành vi phạm tội ở các điều luật thuộc các lĩnh vực cụ thể.
Tội phạm thể hiện ở hành động do cẩu thả hoặc quá tự tin mà gây ra cái chết cho nạn nhân. Hành vi khách quan tương tự như hành vi thực hiện tội phạm giết người, chỉ khác nhau ở mặt chủ quan. Ví dụ, người đi săn tưởng người là thú nên đã bắn nhầm làm chết người. Một người mở cửa sổ, cánh cửa đã đập vào đầu cháu bé đang chơi bên đường làm cháu bé bị chết. Hậu quả chất người là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người cần phải được làm rõ trong mặt khách quan của tội phạm.
Một điều cần lưu ý là BLHS quy định hành vi vô ý làm chết người trong một số lĩnh vực hành chính thì không phạm tội vô ý làm chết người mà phạm những tội riêng như: tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260); tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267); tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 277); tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 295)…
Hành vi vô ý làm chết người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.Tội vô ý làm chết người là tội phạm có cấu thành vật chất, vì vậy hậu quả chết người xảy ra là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này. Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vô ý. Có mối quan hệ ràng buộc giữa hành vi vô ý và hậu quả chết người. Hậu quả của hành vi là nạn nhân chết xuất phát từ hành vi vô ý của người phạm tội gây ra.

3.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý. Ý thức của người phạm tội là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội vô ý làm chết người và tội giết người. Người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình dưới hình thức lỗi vô ý, bao gồm cả vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin.

Làm chết người do lỗi vô ý vì cẩu thả là trường hợp thiếu cẩn trọng khi thực hiện hành vi mà người phạm tội không thành trước khả năng gây ra hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước.Làm chết người do vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra và có thể ngăn ngừa được nhưng cuối cùng hậu quả đó vẫn xảy ra.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội phạm được quy định là hậu quả chết người. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Người có hành vi vi phạm quy tắc an toàn chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra khi hành vi vi phạm của họ và hậu quả . chết người đã xảy ra có QHNQ với nhau.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể: Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi vô ý. Có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Trong cả hai trường hợp, chủ thể đều không mong muốn cũng như không chấp nhận hậu quả chết người. Trong trường hợp vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả chết người nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Còn trong trường hợp vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả chết người mà hành vi của mình gây ra mặc dù với địa vị cụ thể của mình họ phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường họp làm chết 02 người trở lên. Đây là trường hợp phạm tội làm nhiều người chết, trong cùng một lần hay trong các lần phạm tội khác nhau.

4. Ví dụ về tội vô ý làm chết người

Ví dụ 1 : A,B,C, X đi từ trên rừng thuộc bản K1, xã P, thành phố T, tỉnh Y để về nhà. Khi đi về do trời tối không nhìn rõ mặt người nên A,B,C dùng đèn pin để soi đường đi. Mọi người đi thành 03 nhóm,mỗi nhóm cách nhau khoảng 10m đến 20m. A và B đi trước, C và X đi sau cùng. Khoảng 30 phút sau, thì A đi kiểm tra bẫy thú rừng mà B đặt từ trước đó. B đi vào bụi cây bên phải (theo phía đường đi) để kiểm tra. C,X đi tiếp được một đoạn thì phát hiện phía bên tay phải đường đi về có thú rừng nên cả nhóm dừng lại cùng soi đèn để tìm bắt. Lúc này, A dùng đèn pin đội đầu soi xung quanh, phát hiện phía bên tay phải theo đường đi có một tảng đá lớn và một bụi cây rậm. Nhìn thấy có đốm sáng phát ra từ bụi cây, nghi ngờ là mắt của thú rừng nên A đã dùng súng kíp tự chế mang theo, bắn 01 phát về phía đố mánh sáng phát ra. Sau khi bắn xong nghe tiếng có người kêu. A chạy đếnxem thì phát hiện KT trúng đạn súng kíp của mình và nằm bất tỉnh. Thấy vậy A gọi mọi người đến cùng giúp cõng KT xuống dưới đường để đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên đi được nửa đường thì KT tử vong. Sau khi đưa KT về nhà thì A đến Công an thành phố T để tự thú về hành vi phạm tội của mình vàtự nguyện giao nộp khẩu súng kíp tự chế đã sử dụng để gây án.
Ví dụ 2: Anh A là người yêu của B và thường đến ở cùng B tại nơi B thuê trọ. Anh C, E có mối quan hệanh em bạn bè thân thiết với anh A nên cũng thân quen với B. Tối ngày 123, anh C, E đến quán của anh A (gần nơi B thuê trọ) và ngủ lại trông quán.Vào khoảng 09 giờ ngày123, khi anh A đang ngủ tại phòng trọ của B, B phát hiện trong chiếc điện thoại Iphone của C cho anh A mượn sử dụng có tin nhắn của anh A với người yêu cũ. B ghen nên đã gọi anh A dậy cãi nhau. Do tức giận, B đã đập chiếc điện thoại này xuống đất. Trong lúc đang cãi nhau thì anh C gọi điện thoại đến, B nghe máy và nói cho anh C biết việc B và anh A mâu thuẫn. Anh C liền rủ E xuống phòng trọ của B. Tại đây anh C và anh E can ngăn để B và anh A không xô xát với nhau.Anh C và anh E kéo B ra khỏi phòng trọ và đưa B lên đường phía trên của phòng trọ để tránh mặt anh A. Cùng lúc này anh T(cũng là bạn của anh A và B) đi qua, thấy vậynên dừng lại hỏi han và biết chuyện vừa xảy ra.Khoảng 9 giờ30 phút cùng ngày, sau khi bình tĩnh lại, B cùng anh C,anh E,anh T xuống phòng trọ nói chuyện với anh A. B và anh A nói chuyện được một lúc thì lại tiếp tục to tiếng với nhau. Thấy anh A định xông lên đánh B thì anh E, anh T kéo anh A về đầu giường ngủ và giữ chặt anh A lại, còn anh C thì can ngăn B. Lúc này B nhìn thấy trên mặt bếp có một con dao nên nảy sinh ý định cầm con dao này để dọa anh A. B dùng tay phải cầm cán dao, mũi dao hướng về phía trước rồi quay người lại phía sau theo hướng từ phải sang trái. Ngay lúc đó anh C từphía sau lao đến ôm B để can ngăn thì bị lưỡi dao trên tay B đâm vào mạn sườn trái làm anh C bịthương. Anh E thấy vậy chạy đến giật con dao trên tay B ra, vứt trước cửa phòng trọ. Sau đó B cùng mọi người đưa anh C đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh nhưng đến 16 giờ30 phút cùng ngày thì anh C tử vong tại bệnh viện.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê