1. Năng lực hiểu biết của doanh nghiệp đối với công cụ tự vệ thương mại

Dựa trên một khảo sát của VCCI “về khả năng kiện chống bán phá giá - chống trợ cấp - tự vệ (kiện phòng vệ thương mại) đối với hàng hoá nhập khẩu gây thiệt hại cho Việt Nam” vào năm 2014 với 107 doanh nghiệp phản hồi (bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI) thuộc 06 ngành sản xuất cho thấy hiểu biết của doanh nghiệp đối với công cụ tự vệ thương mại như sau:

Theo kết quả điều tra này điểm tích cực là phần lớn (khoảng 60-70% các doanh nghiệp được hỏi) đã biết về công cụ tự vệ thương mại, khác với hơn 10 năm trước đây, hầu như không doanh nghiệp nào biết về tự vệ thương mại và các biện pháp, công cụ áp dụng. Đặc biệt, các doanh nghiệp không chỉ biết về công cụ tự vệ thương mại với tính chất là một rào cản ở nước ngoài (với hàng hoá xuất khẩu Việt Nam) mà còn biết đến chúng với tính chất công cụ có thể sử dụng ở trong nước, để bảo vệ quyền lợi của chính mình.

Điểm hạn chế là hiểu biết này của doanh nghiệp dừng lại ở mức độ “sơ khởi”, như có nghe nói tới nhưng chưa có kiến thức sâu hơn về công cụ tự vệ thương mại. Việc phần lớn các doanh nghiệp trả lời rằng mình biết về công cụ tự vệ thương mại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy sự hiểu biết của họ chỉ ở mức sơ khởi, chưa có kiến thức chuyên sâu.

 

2. Tình trạng gia tăng nhập khẩu tăng đột biến vào Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp không có thông tin hoặc có thông tin nhưng không đầy đủ, do đó, không thể đánh giá về tình hình gia tăng nhập khẩu đột biến của một loại hàng hoá nào đó. Nhưng theo đánh giá thị trường nội bộ, nhiều doanh nghiệp khác lại khẳng định có tồn tại hiện tượng hàng hoá nước ngoài nhập khẩu ồ ạt với lượng tăng đột biến vào Việt Nam thời gian qua ở các mức độ khác nhau. Nếu chỉ tính trên số các doanh nghiệp có thông tin để đánh giá về vấn đề này thì tỷ lệ khẳng định có tồn tại hiện tượng này lên tới trên 73%. Điều này cho thấy, với những người biết thông tin, tình hình gia tăng nhập khẩu hàng hoá là khá phổ biến.

Về hệ quả, trong mối tương quan so sánh với các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, thì khi hàng hoá của nước ngoài nhập khẩu ồ ạt với lượng tăng đột biến đã gây ra những thiệt hại lớn hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tỷ lệ các doanh nghiệp cho rằng hiện tượng này không gây ra khó khăn gì đáng kể cho thấy “độ mờ” trong phân biệt giữa doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh. Như vậy, có thể thấy trong suy đoán chung thì hiện tượng hàng hoá nhập khẩu tăng ồ ạt, đột biến gây thiệt hại khó đoán định hơn so với các hiện tượng hàng hoá nhập khẩu cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, cho thấy sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trước tình trạng này.

Có thể nói, sự nhạy cậm và nhận diện được tình trạng gia tăng nhập khẩu tăng đột biến một loại hàng hoá nào đó vào Việt Nam là rất quan trọng và khởi đầu cho quy trình tiếp theo trong áp dụng biện pháp tự vệ thương mại. Thực tế thời gian qua ở Việt Nam cho thấy, các doanh nghiệp đã có năng lực trong nghiên cứu thị trường và xác định được dấu hiệu của tình trạng gia tăng nhập khẩu, nhưng có thể họ chưa biết cách và cùng nhau thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình bằng cách sử dụng công cụ tự vệ thương mại.

 

3. Khả năng khởi kiện và khả năng tập hợp lực lượng của các doanh nghiệp Việt Nam

a. Khả năng khởi kiện

Có một tỷ lệ tưong đối các doanh nghiệp biết về công cụ tự vệ thương mại. Mặc dù vậy, có một khoảng cách khá xa giữa việc nghe nói tới các công cụ này và việc nghĩ tới hay chủ động sử dụng chúng. Mặc dù đa số doanh nghiệp cho biết đã được nghe nói về công cụ tự vệ thương mại có thể được sử dụng ở Việt Nam để chống lại hàng hoá nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh hoặc nhập khấu đạt, chỉ có số ít doanh nghiệp tính tới việc sử dụng công cụ này. Điều này trái với các quan ngại của nhiều người về việc doanh nghiệp không biết về công cụ tự vệ thương mại, trên thực tế các doanh nghiệp có thể đã nghĩ tới công cụ này.

b. Khả năng tập hợp lực lượng

Theo quy định của WTO, cũng như đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam, để đứng đon khởi kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ, bên đi kiện phải có đủ tư cách đi kiện, tức là phải đáp ứng ít nhất 02 điều kiện (i) Các doanh nghiệp đi kiện phải sản xuất ra ít nhất 25% tổng lượng sản phẩm liên quan sản xuất tại Việt Nam; (ii) Đơn kiện nhận được sự ủng hộ của các doanh nghiệp sản xuất ra ít nhất 50% tổng lượng sản phẩm liên quan sản xuất tại Việt Nam.

Nói cách khác, sử dụng công cụ tự vệ thương mại là vấn đề của tập thể - là chiến lược hay hành động của cả một ngành sản xuất nội địa. Đổ sử dụng công cụ tự vệ thương mại, doanh nghiệp phải tập hợp với nhau, thành một lực lượng đủ sức đại diện cho một ngành sản xuất nội địa hay cho sản phẩm trong nước có liên quan.

Ở Việt Nam, các doanh nghiệp hầu hết đều là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tính kết nối, liên kết chưa cao, nên việc tập hợp lực lượng là rất khó khăn. Nhiều nguyên nhân được đề cập tới, trong đó có việc doanh nghiệp hầu như không có liên hệ với các doanh nghiệp cùng sản xuất sản phẩm liên quan, do doanh nghiệp có quy mô nhỏ nên dù có biết về công cụ này cũng không có cách nào tác động tới các doanh nghiệp khác trong ngành, do trong nội bộ các doanh nghiệp có lợi ích mâu thuẫn nhau. Hoặc do Hiệp hội còn hạn chế, ít có khả năng kết nối doanh nghiệp trong ngành. Hậu quả là, doanh nghiệp Việt Nam hiện đang gặp khó khăn rất lớn ngay từ điều kiện đầu tiên về tư cách đi kiện, mà đa phần trong đó là do quy mô của doanh nghiệp nhỏ.

Thực tế này được khẳng định khi trong số các doanh nghiệp cho rằng hoàn toàn có thể tập hợp lực lượng để đủ tư cách đi kiện tự vệ thương mại thì chủ yếu là của doanh nghiệp đang độc quyền sản xuất sản phẩm liên quan. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đều tin tưởng dựa vào Hiệp hội ngành hàng trong việc đứng ra kiện tự vệ thương mại.

Từ thực trạng trên, có thể thấy, trong khi khả năng cải thiện quy mô của doanh nghiệp là không lớn, bởi đây không phải vấn đề có thể thực hiện ngay được mà chỉ có thể tập trung vào các giải pháp để tăng khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp, đặc biệt thông qua việc nâng cao vai trò của Hiệp hội ngành nghề trong vấn đề này, từ đó hiện thực hoá khả năng sử dụng công cụ tự vệ thương mại.

 

4. Khả năng huy động nguồn lực của Doanh nghiệp Việt Nam

Một vụ việc liên quan đến tự vệ thương mại, tương tự như các vụ kiện khác, không phải là một công cụ bảo vệ lợi ích “miễn phí”. Nói cách khác, để có thể sử dụng công cụ này bảo vệ lợi ích lâu dài của mình, doanh nghiệp cũng cần phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, trước mắt là cho quá trình theo kiện.

Trên thực tế, mặc dù các doanh nghiệp đi kiện sẽ không phải trả thù lao hay chi phí để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc điều tra, để khởi kiện và theo đuổi vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu, nhưng bên đi kiện cũng phải mất nhiều chi phí. Tập hợp bằng chứng về việc bán phá giá, bán hàng được trợ cấp, bằng chứng về thiệt hại gây ra đối với mình, thuê luật sư tư vấn, tư vấn theo kiện... đều là những công việc đòi hỏi những chi phí lớn về các nguồn lực mà nếu không có sự chuẩn bị đầy đủ, hoặc không đủ khả năng đáp ứng được các yêu cầu về nguồn lực, hiệu quả sử dụng công cụ tự vệ thương mại sẽ là rất hạn chế.

Kết quả điều tra về phòng vệ thương mại, tự vệ thương mại và vấn đề liên quan cho thấy một hiện trạng tuy không mới, nhưng đáng lo ngại. Đa số các doanh nghiệp cho rằng nếu đi khởi kiện thì sẽ gặp khó khăn trong huy động tài chính. Dường như các doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa có bất kỳ chuẩn bị gì sẵn sàng cho việc sử dụng công cụ kiện tự vệ thương mại khi cần thiết. Đối với một nhóm doanh nghiệp lớn thì cho rằng việc huy động tài chính đi kiện không khó khăn, do các doanh nghiệp này có tiềm lực tài chính sẵn có, tuy nhiên các doanh nghiệp không phải đã dự trù hay cỏ kế hoạch về một khoản dành riêng cho việc này.

Kết quả điều tra khảo sát này đã được dự báo trước, khi các doanh nghiệp hầu như chưa đưa việc sử dụng công cụ tự vệ thương mại vào các tính toán dự trù rủi ro trong kinh doanh của mình (như kết quả khảo sát phía trên về nhận thức của doanh nghiệp). Tuy nhiên, đây là một thực tế gây nhiều quan ngại bởi nếu không có sự chuẩn bị sẵn về nguồn lực, hiệu quả của việc sử dụng công cụ tự vệ thương mại sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Trong khi đó, các chi phí cho việc theo kiện có thể là rất lớn (đặc biệt đối với những vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp với yêu cầu phải chứng minh về các chi tiết cấu thành giá của các nhà xuất khẩu nước ngoài) và vì vậy doanh nghiệp không dễ huy động ngay nguồn tài chính cho việc tham gia theo đuổi những vụ kiện như thế này.

Trên thực tế, các doanh nghiệp dường như chưa ý thức được rằng các chi phí bỏ ra cho việc theo kiện cần được xem như các khoản đầu tư cho một chiến lược kinh doanh dài hạn (với lợi ích về lâu dài). Có một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp trông chờ vào các chủ thể khác để mong có được hỗ trợ về tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp, mà không chủ động xây dựng và có phương án đầu tư, chuẩn bị các khoản này cho riêng doanh nghiệp.

Từ kết quả điều tra khảo sát, cho thấy rất cần tập trung tuyên truyền cho doanh nghiệp có nhận thức đúng về công cụ - chiến lược kinh doanh này và vận động doanh nghiệp tự mình hoặc cùng nhau có những khoản đầu tư, trích thành lập quỹ cho việc sử dụng các công cụ tự vệ thương mại khi cần thiết.

 

5. Khả năng tập hợp bằng chứng chứng minh cho việc khởi kiện của Doanh nghiệp Việt Nam

Tương tự như các vụ kiện thương mại khác, để kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu, bên đi kiện phải tập hợp đầy đủ các thông tin, bằng chứng chứng minh rằng hàng hoá bị kiện đang bán phá giá, được trợ cấp hoặc nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam gây thiệt hại đáng kể/nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hoá đó trong nước của Việt Nam.

Các thông tin và bằng chứng của vụ kiện được cho là yêu cầu cốt yếu cho mọi nguyên đơn trong các vụ tự vệ thương mại. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh các thông tin liên quan tới hàng hoá nhập khẩu chưa được minh bạch hoặc khó tiếp cận và tổng hợp, cũng như nguồn lực cho việc tìm kiếm thông tin tại thị trường nước ngoài là rất hạn chế, việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp với nhau hầu như chưa thực hiện được, việc tập hợp thông tin càng là một thách thức lớn hơn nữa.

Trong khi đó, ngay cả các bằng chứng cho việc kiện tự vệ, về những khía cạnh được cho là dễ tập hợp thông tin hơn cả (số lượng, giá trị nhập khẩu của hàng hoá nước ngoài), kết quả khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa thể làm được điều này. Rất ít doanh nghiệp cho rằng mình có thể tập họp được các thông tin này. Những hạn chế trong minh bạch thông tin ở Việt Nam có lẽ là lý giải đầu tiên và hợp lý nhất cho tình trạng này. Không chỉ là các thông tin bằng chứng về bị đơn, ngay cả những thông tin về chính mình (thông tin, bằng chứng về thiệt hại đáng kể/nghiêm trọng mà ngành sản xuất nội địa của Việt Nam do hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài), các doanh nghiệp cũng tỏ ra không lạc quan về khả năng tập hợp. Hầu hết các doanh nghiệp đều khẳng định hoàn toàn không thể đưa ra các bằng chứng chứng minh phục vụ cho vụ kiện. Một lần nữa những hạn chế trong minh bạch thông tin của ngành, và kết nối thông tin giữa các doanh nghiệp trong ngành ở Việt Nam được cho là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng hạn chế về năng lực áp dụng biện pháp và công cụ tự vệ thương mại.

Với các vụ tự vệ thương mại nhấn mạnh đến chứng minh các bằng chứng, ngay cả khi doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực tập hợp lực lượng, nhân lực để đi kiện, nếu không giải quyết được vấn đề thông tin, hiệu quả của các vụ tự vệ thương mại, nếu được khởi xướng, cũng sẽ rất hạn chế.

Các giải pháp về cơ chế minh bạch thông tin, để doanh nghiệp có thể vượt qua rào cản khách quan không thuộc về khả năng của doanh nghiệp này sẽ là yếu tố cần tập trung giải quyết triệt để và đầu tiên trong các giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại nói chung và tự vệ thương mại nói riêng ở Việt Nam.

Mặc dù vậy, từ biết/nhận thức đến sử dụng được các công cụ phòng vệ thương mại và tự vệ thương mại còn là cả một quãng đường dài. Một mặt, doanh nghiệp hầu như chưa ở trạng thái sẵn sàng về nhân lực, nguồn lực vật chất cho việc đi kiện khi cần thiết. Mặt khác, những cơ chế minh bạch thông tin để doanh nghiệp có được các căn cứ, bằng chứng xác đáng để đi kiện còn ở xa dưới mức yêu cầu.

Trân trọng!