1. Thời điểm cho trẻ ăn dặm

Giai đoạn ăn dặm trẻ cần ăn bổ sung vì nhu cầu năng lượng tăng. Từ khi bé được 6 tháng tuổi năng lượng từ sữa mẹ chỉ đủ cung cấp khoảng 450kcal/ngày, trong khi đó giai đoạn này trẻ cần khoảng gần 700kcal/ngày. Do vậy, ăn dặm đúng cách là cần thiết để bù đắp khoảng cách thiếu hụt năng lượng này và lượng thức ăn trong các bữa ăn dặm cũng cần tăng lên khi trẻ lớn lên (tăng về số lượng và đậm độ đặc dần lên), nếu không đảm bảo đủ bữa ăn dặm trẻ sẽ còi cọc, phát triển chậm. Hơn nữa trong giai đoạn này, lượng sắt dự trữ không còn, do vậy trẻ sẽ thiếu sắt nếu chỉ được cung cấp từ nguồn sữa mẹ, do vậy ăn dặm sẽ là nguồn cung cấp đủ lượng sắt cần thiết bù đắp sự thiếu hụt đó. Nếu cơ thể trẻ không có đủ lượng sắt cần thiết trẻ sẽ bị thiếu máu. Khoảng thiếu hụt sắt lớn nhất vào lúc trẻ 6 -12 tháng và nguy cơ thiếu máu lớn nhất cũng ở nhóm tuổi này.

Trước 4 tháng tuổi, cơ thể trẻ chưa có đủ men amylase để tiêu hóa chất bột. Do vậy, nếu cho bé ăn dặm trước 4 tháng dễ khiến bé dễ chán sữa mẹ nên bú ít đi, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các dưỡng chất thiết yếu, quan trọng từ sữa mẹ. Điều này làm bé giảm sức đề kháng, tăng nguy cơ suy dinh dưỡng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển. Mặt khác, bé dễ bị dị ứng thực phẩm do hệ tiêu hóa khi bé 4 tháng tuổi vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt là những bé có cơ địa nhạy cảm. Vì vậy, bé có nguy cơ cao bị tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa vì hệ tiêu hóa non nớt chưa đủ men để xử lý tinh bột và những thức ăn phức tạp khác. Ngược lại, nếu cho bé ăn dặm muộn sau 6 tháng tuổi, nhiều khả năng trẻ sẽ đứng cân, tăng trưởng chậm. Bởi vì khi này sữa mẹ không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ phát triển.

2. Nên cho trẻ ăn dặm bao nhiêu là đủ

                                                                     Nên cho trẻ ăn dặm ngày mấy lần là đủ?

 

Về nguyên tắc, khi tập ăn thì cần cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều. Trong những bữa ăn dặm đầu tiên, có thể trẻ chỉ ăn từ 1 - 2 muỗng cà phê thức ăn. Tuy nhiên, nếu trẻ háo hức với đồ ăn mới, thì cha mẹ có thể tăng dần lượng thực phẩm trong bữa ăn, cho đến khi bé ăn được khoảng từ 50 - 100 ml mỗi lần.

Trong những năm đầu đời của trẻ, ngoài việc tăng số lượng thực phẩm cho mỗi bữa ăn thì số lượng bữa ăn của trẻ cũng được tăng dần theo thời gian, đảm bảo quá trình ăn dặm đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển cả về thể chất và tinh thần cho trẻ.

Thời gian đầu khi trẻ thực hiện ăn dặm có thể bắt đầu bằng một bữa ăn mỗi ngày và cứ 2 tháng thì lại tăng thêm một bữa cho tới khi bé ăn được 3 bữa mỗi ngày. Với bé 6 tháng nên ăn một bữa mỗi ngày và khi bé được 8 tháng thì số bữa ăn sẽ tăng thành 2 bữa một ngày, cho đến khi bé được 10 tháng có thể tăng lên 3 bữa ăn một ngày.

Với bé từ 6 - 7 tháng tuổi: Có thể ăn bột loãng, sền sệt rồi đặc hoặc các thức ăn xay/nghiền với hàm lượng khoảng 100 - 200 ml thức ăn/bữa và bú mẹ cả ngày.nVới bé từ 8 - 9 tháng tuổi: Bé có thể ăn bột đặc, thức ăn nghiền hoặc thái nhỏ với hàm lượng khoảng 200ml và ăn 2 bữa cùng với bú mẹ cả ngày. Với trẻ từ 10 - 12 tháng thì ăn bột đặc, thức ăn thái nhỏ, cắt khúc để trẻ có thể tự cầm nắm được với hàm lượng từ 200 - 250 ml và ăn 3 bữa cùng bú mẹ cả ngày. Khi trẻ từ 12 - 24 tháng tuổi thì có thể cho trẻ ăn cháo, thức ăn thái nhỏ cắt khúc với hàm lượng từ 250 - 300 ml và cho trẻ ăn 3 bữa cùng với bú mẹ cả ngày. Sau khi trẻ được 24 tháng tuổi thì có thể ăn cơm cùng với gia đình.

Thực đơn cho trẻ ăn dặm :

Thực đơn ăn dặm cho trẻ từ 6 - 8 tháng tuổi bao gồm: Bột gạo tẻ 20 gam, tôm tươi bỏ vỏ và giã nhỏ 15 gam, trứng 10 gam (có thể một lòng đỏ trứng gà hoặc 4 lòng đỏ trứng cút), thịt nạc 10 gam, cá quả gỡ bỏ xương 10 gam, gan gà/lợn băm nhỏ/nghiền 10 gam, rau xanh giã nhỏ 2 thìa cà phê (10 gam), mỡ/dầu ăn 1 thìa cà phê (5 gam), nước 1 bát con.

Thực đơn cho trẻ từ 9 - 11 tháng tuổi bao gồm: Bột gạo tẻ 25 gam, tôm bỏ vỏ và giã nhỏ 15 gam, cua đồng 30 gam, thịt nạc 15 gam, cá quả gỡ bỏ xương 15 gam, gan gà/lợn băm nhỏ/nghiền 15 gam, rau xanh giã nhỏ 2 thì cà phê (10 gam), mỡ/dầu ăn 1 thìa cà phê (5 gam), nước 1 bát con.

Thực đơn cho trẻ từ 12 - 23 tháng tuổi bao gồm: Gạo tẻ 40 gam, tôm tươi bỏ vỏ giã nhỏ 25 gam, trứng gà 1 quả 30 gam, thịt lợn/gà/bò 25 gam, cá chép luộc chín gỡ xương 25 gam, lượng 25 gam, rau xanh thái nhỏ 2-3 thìa cà phê (10 -15 gam), mỡ/dầu ăn 1,5-2 thìa cà phê ( 7,5-10 gam) và nước vừa đủ.

Tần suất cho bé ăn dặm :

Với những trẻ dưới 1 tuổi, nguồn sữa mẹ và sữa ngoài nên là nguồn cung cấp dinh dưỡng chính, mẹ có thể kết hợp cho trẻ ăn dặm những sữa vẫn nên chiếm 70% khẩu phần ăn của bé 

Việc ăn dặm sớm khiến trẻ bỏ bú sữa mẹ hoặc giảm lượng bú mỗi ngày, song đó việc hấp thụ dinh dưỡng từ thức ăn cũng không cao. Vào giai đoạn những tháng đầu, hệ tiêu hóa của trẻ chưa phát triển toàn diện, việc tiếp xúc với thức ăn quá sớm sẽ gây tình trạng dị ứng thưc ăn. Theo đó, trẻ nên ăn dặm sớm nhất vào tháng thứ 5 và phù hợp nhất vào tháng 6. Chế độ ăn dặm của trẻ được chia theo từng giai đoạn tháng tuổi: 5 - 6 tháng, 7 - 12 tháng là khoảng thời gian hợp lý nhất. 

Khi mới bắt đầu ăn, mẹ có thể cho trẻ ăn bột trong 1 khoảng thời gian ngắn. Ba mẹ cũng cần tôn trọng khả năng ăn của bé, có bé ăn nhiều, bé ăn ít. Trẻ biếng ăn trong giai đoạn ăn dặm cũng không nên chia thành quá nhiều bữa, lưu ý trước 1 tuổi sữa vẫn là thức ăn chính của trẻ, do đó không nên áp lực với chuyện ăn dặm. 

3. Trẻ ăn dặm theo độ tuổi

Với những trẻ 6 tháng tuổi :

Ở các bữa ăn dặm đầu tiên, mẹ nên cho con làm quen với bột loãng, sền sệt hoặc các loại thức ăn xay/nghiền với hàm lượng từ 1 - 2 muỗng cà phê. Nếu nhìn thấy trẻ háo hức và thích thú với đồ ăn mới thì phụ huynh có thể tăng số lượng thực phẩm, cho đến khi trẻ ăn được 50 - 100ml mỗi lần. Thêm vào đó, trẻ 6 tháng tuổi chỉ nên ăn một bữa mỗi ngày, đồng thời cho con bú sữa 5 cữ, mỗi cữ 120 - 180ml. 

Với những trẻ 7 tháng tuổi :

Bước qua tháng tiếp theo, em bé của mẹ đã ăn được đa dạng thực phẩm, bao gồm: bột gạo sữa, bột thịt heo, thịt gà, thịt bò, rau củ, sữa chua và phô mai. Các mẹ cần lưu ý điều này để thay đổi thực đơn mỗi ngày, kích thích khẩu vị để con ăn ngon miệng và không dễ bị ngán.  Ngoài ra, trẻ 7 tháng tuổi nên được bổ sung 2 - 3 bữa ăn/ngày. Mỗi bữa bao gồm 100 - 200ml bột/cháo, 100 - 120g thực phẩm giàu protein và 20 - 30g rau củ quả. Đừng quên rằng mẹ cũng phải cho con uống sữa với 3 - 4 cữ, mỗi cữ 180 - 220ml để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ.

Với trẻ 10 - 12 tháng tuổi:

Từ 10 đến 12 tháng tuổi, lượng bột/cháo trẻ ăn được tăng thêm 250 - 300ml. Ngoài ra, trẻ cũng bắt đầu ăn cơm nát ở giai đoạn này nên mẹ có thể bổ sung 25g gạo tẻ nấu nhừ; kết hợp với 15g tôm/thịt/cá, 10g rau củ thái nhỏ và 5g dầu thực vật trong bữa ăn của trẻ, để đảm bảo dinh dưỡng tối ưu giúp con được tăng trưởng tốt. Cùng với 3 bữa chính một ngày, trẻ phải được cho bú thêm 4 cữ, mỗi cữ 240ml sữa để đảm bảo thể lực tốt, cho trẻ rèn luyện kỹ năng vận động mới như bò, đứng, tập đi.  

Với những trẻ trên 12 tháng tuổi:

Đến giai đoạn này, có lẽ các mẹ đã quen với việc xây dựng bữa ăn cho con và không còn bối rối trước thắc mắc trẻ mới ăn dặm ăn bao nhiêu là đủ.  Theo đó, từ 12 đến 24 tháng tuổi, trẻ đã có thể ăn đa dạng thực phẩm như cháo (250 - 300ml), gạo tẻ nấu thành cơm nát (40g), tôm tươi lột vỏ giã nhuyễn (25g), trứng gà (30g), rau củ thái nhỏ (10-15g), mỡ/dầu ăn (7,5 - 10g) và uống nước vừa đủ. 

Số lượng thức ăn trên đây cũng phải được duy trì trong 3 bữa chính, đồng thời cho con bú 2 - 3 cữ (tổng cộng là 460 - 700ml/ngày) để tăng cường canxi, chất béo và protein, thúc đẩy quá trình phát triển sau này. Sau 24 tháng tuổi, phụ huynh nên cho con ăn cơm cùng với gia đình để hình thành thói quen ăn uống lành mạnh, cũng như kết nối tình cảm giữa trẻ với bố mẹ. 

Tham khảo thêm: Ăn nhiều hành có tốt cho sức khỏe không ?