1. Sáng chế là gì ?

Sáng chế hiểu một cách đơn giản là một giải pháp kỹ thuật hoặc một ý tưởng sáng tạo mới, được áp dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể trong nhiều lĩnh vực. Nó có thể là một sản phẩm, một quy trình, một phương pháp, một công cụ hoặc một thiết kế mớ,... Sáng chế thường được tạo ra thông qua quá trình nghiên cứu và phát triển, sự sáng tạo và ứng dụng của kiến thức kỹ thuật, khoa học của các nhà phát minh, nhà khoa học hoặc các chuyên gia trong ngành công nghiệp. Quyền sở hữu sáng chế được bảo vệ bởi luật pháp và cho phép chủ sở hữu sáng chế tận hưởng quyền độc quyền sử dụng, bán hoặc cấp phép sáng chế cho người khác trong một thời gian xác định sau khi sáng chế đã được cấp văn bằng bảo hộ.

Những tổ chức, cá nhân sau có quyền đăng ký sáng chế theo Luật Sở hữu trí tuệ  năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), Điều 86 gồm: Tác giả tạo ra sản phẩm; Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen cung cấp nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen theo hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích trừ một số trường hợp theo quy định.

Lưu ý rằng: 

- Nếu nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế thì họ đều có quyền đăng ký nhưng quyền đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân khác đồng ý.

- Người có quyền đăng ký quy định nêu trên có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật ngay cả khi đã hoàn thành việc nộp đơn đăng ký.

Xem thêm: Sáng chế là gì? Ví dụ về sáng chế ở Việt Nam

2. Nghĩa vụ cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc

Sáng chế phụ thuộc là một loại sáng chế được tạo ra dựa trên một sáng chế cơ bản đã tồn tại trước đó. Sáng chế phụ thuộc chỉ có thể sử dụng hoặc triển khai nếu sáng chế cơ bản tương ứng được sử dụng hoặc triển khai cùng với nó. Điều này có nghĩa là sáng chế phụ thuộc phụ thuộc vào sáng chế cơ bản và không thể tồn tại độc lập.

Sáng chế cơ bản là sáng chế đã tồn tại trước đó và được sử dụng làm cơ sở để tạo ra sáng chế phụ thuộc. Nó là sáng chế gốc, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và cung cấp nền tảng cho sự phát triển của các sáng chế phụ thuộc. Sáng chế cơ bản thường có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi và giới hạn của các sáng chế phụ thuộc và đảm bảo tính liên kết giữa chúng.

Theo quy định tại Điều 137 pháp luật về sở hữu trí tuệ thì nghĩa vụ cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc được quy định cụ thể như sau: 

Trong trường hợp sáng chế phụ thuộc được chứng minh là mang lại một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ bản và có ý nghĩa kinh tế lớn, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả và điều kiện thương mại hợp lý. Quyền yêu cầu chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản là một quyền quan trọng của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc. Qua đó, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có thể đạt được quyền sử dụng sáng chế cơ bản, tận dụng các công trình nghiên cứu và phát triển đã được thực hiện trên sáng chế cơ bản để tiếp tục phát triển và ứng dụng sáng chế phụ thuộc. Trong quá trình thương thảo chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản, các bên có thể thỏa thuận về giá cả và điều kiện thương mại hợp lý dựa trên nhiều yếu tố như giá trị kỹ thuật, tiềm năng thương mại, quyền ưu tiên và thị trường sử dụng của sáng chế phụ thuộc,...

Bên cạnh đó, sẽ có trường hợp chủ sở hữu sáng chế cơ bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc nhưng lại không đưa ra lý do chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở hữu sáng chế cơ bản dựa trên Điều 145 và Điều 146 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế mà không yêu cầu sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế cơ bản mà cơ quan nhà nước sẽ quyết định và thực hiện nhằm bảo đảm rằng sáng chế được sử dụng và phát triển theo hướng có lợi cho sự tiến bộ kỹ thuật và phát triển kinh tế chung của xã hội.

3. Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế được quy định như thế nào ?

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng sáng chế mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022):

Một là: Phục vụ mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;

Hai là: Sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế, người nắm độc quyền sử dụng không thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến sử dụng sáng chế;

Ba là: Dù đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thỏa đáng nhưng người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế;

Bốn là: Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Năm là: Việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đây là một điều khoản mới được thêm vào trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) rất phù hợp trong điều kiện phát triển và hội nhập như hiện nay.

Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy theo các trường hợp trên không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

4. Hạn chế quyền sử dụng sáng chế theo quyết định chuyển giao bắt buộc phải đáp ứng tiêu chí gì ?

Sử dụng sáng chế được chuyển giao phải phù hợp với các điều kiện sau đây:

- Quyền sử dụng được chuyển giao phải thuộc dạng không độc quyền, tức là quyền sử dụng không chỉ thuộc về một người duy nhất mà có thể được sử dụng bởi nhiều bên khác nhau.

- Quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được giới hạn trong phạm vi và thời hạn cần thiết để đáp ứng mục tiêu chuyển giao. Tuy nhiên, trong trường hợp sáng chế liên quan đến công nghệ bán dẫn, việc chuyển giao quyền sử dụng có thể nhằm mục đích công cộng, phi thương mại hoặc để giải quyết các hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

- Quyền chuyển giao không được phép chuyển nhượng lại cho người khác. Tuy nhiên, trong trường hợp người sở hữu sáng chế chọn chuyển nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của mình thì việc chuyển giao quyền sử dụng vẫn được thực hiện, nhưng không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác.

- Người được chuyển giao quyền sử dụng phải trả một khoản tiền đền bù cho người nắm quyền sử dụng độc quyền sáng chế theo thỏa thuận. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt như việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế để nhập khẩu dược phẩm theo quy định của các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì khoản tiền đền bù đã được trả tại nước xuất khẩu.

- Quyền sử dụng được chuyển giao chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp được quy định tại Điều 145, khoản d và khoản đ Luật Sở hữu trí tuệ.

Bài viết bên trên đã đưa ra các thông tin liên quan đến nghĩa vụ cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc, hi vọng chúng tôi đã mang đến thông tin hữu ích cho quý khách hàng. Có nhu cầu đọc thêm các tài liệu liên quan, hãy nhấp vào đường dẫn sau của Luật Minh Khuê: Bằng sáng chế hay bản quyền (patent) là gì? Liên hệ ngay: 19006162 hay gửi thư vào email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ khi cần. Rất hi vọng được hợp tác với quý khách trong thời gian tới. Trân trọng ./.