1. Nghĩa vụ quốc gia

Điều 4 yêu cầu các quốc gia thành viên phải từng bước bảo đảm các quyền của trẻ em trong Công ước, trong đó nhấn mạnh rằng, Nhà nước phải sử dụng một cách tối đa các nguồn lực sẵn có để bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của trẻ em. Điều này cũng gợi ý rằng khi cần thiết, các quốc gia có thể yêu cầu sự trợ giúp quốc tế để bảo đảm các quyền của trẻ em. Liên quan đến quy định trong Điều 4, trong Bình luận chung số 5, Ủy ban về quyền trẻ em cho rằng, Điều này đòi hỏi các quốc gia thành viên phải huy động sự tham gia của tất cả các thành phần trong xã hội, bao gồm cả trẻ em, cũng như phải xây dựng những cơ chế đặc biệt và thành lập các cơ quan điều phối, giám sát (độc lập hay trực thuộc chính phủ) để thu thập dữ liệu, nâng cao nhận thức của xã hội và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dịch vụ thích hợp nhằm bảo đảm hiện thực hóa các quyền của trẻ em (các đoạn 2 và 10). Thêm vào đó, Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên thành lập những bộ phận hoặc bổ nhiệm các cá nhân chuyên trách về trẻ em trong Chính phủ, Nghị viện và các cơ quan nhà nước khác, thực hiện các nghiên cứu phân tích, báo cáo về tình hình trẻ em, dành ngân sách cho bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em...( đoạn 10). Ủy ban nhấn mạnh rằng, việc thực hiện các quyền trẻ em không thể bị coi là một quá trình từ thiện hay những ưu đãi dành cho trẻ em mà phải coi đó là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là một cam kết chính trị (các đoạn 11, 12).

2. Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ

Điều 18 xác định một nguyên tắc là cha mẹ, và trong những trường hợp nhất định là người giám hộ pháp lý, có trách nhiệm chính trong việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em. Điều này cũng quy định rõ, trong gia đình, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái là trách nhiệm chung của các bậc cha mẹ và trong việc này, lợi ích của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu của họ. Quy định ở Điều 18 bắt nguồn từ quan điểm định hướng được nêu ở Lời nói đầu của CRC, theo đó, công ước xác định gia đình là “đơn vị xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự trưởng thành và cuộc sống hạnh phúc của mọi thành viên, đặc biệt là trẻ em”. Nguyên tắc kể trên không loại bỏ trách nhiệm của các nhà nước; ngược lại, Điều 18 đồng thời ấn định nghĩa vụ của các nhà nước là phải dành cho các bậc cha mẹ và người giám hộ pháp lý sự giúp đỡ thích đáng để họ có thể hoàn thành tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em. Theo tinh thần của Điều này, việc giúp đỡ các bậc cha mẹ để họ có khả năng chăm sóc, giáo dục trẻ em là biện pháp ưu tiên, việc giao trẻ em cho cộng đồng hay Nhà nước chăm sóc chỉ được coi là biện pháp cuối cùng bởi trẻ em rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương khi bị tách khỏi bố mẹ, gia đình. Liên quan đến vấn đề trên, trong Bình luận chung số 7, Ủy ban quyền trẻ em xác định, việc tôn trọng vai trò của cha mẹ bao gồm nghĩa vụ không cách ly trẻ em khỏi cha mẹ, trừ khi việc cách ly như thế đem lại lợi ích tốt nhất cho trẻ, bởi trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương khi bị tách ly khỏi cha mẹ. Ủy ban khuyến nghị các quốc gia thành viên cần phải nỗ lực hết sức để giảm thiểu số trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em mồ côi. Điều này đòi hỏi phải có những hình thức tổ chức chăm sóc thay thế dài hạn theo mô hình cộng đồng hay nhà nước cho những trẻ em rơi vào những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ví dụ như trẻ em bị cha mẹ bỏ mặc, ngược đãi hay xỉ nhục; trẻ phải sống trong bối cảnh cha mẹ xung đột thường xuyên; cha mẹ không có khả năng nuôi con vì những lý do sức khỏe hay tâm thần...( đoạn 18). Ủy ban cũng nêu ra một số gợi ý về những cách thức mà các quốc gia có thể hỗ trợ gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em, chẳng hạn như việc điều chỉnh các chính sách về thuế thu nhập, lợi tức, nơi ở và thời gian làm việc, dịch vụ y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội cho các bậc cha mẹ, cũng như việc tư vấn, hỗ trợ về kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em cho họ...( đoạn 20). Hầu hết các bậc cha mẹ đều nỗ lực để tạo cho trẻ một khởi đầu tốt nhất có thể, nhưng điều quan trọng, cha mẹ cần nhận thức được rằng trẻ sẽ bước vào thế giới bằng chính khả năng, tính cách và với mục tiêu cá nhân. Mặc dù cha mẹ có thể muốn con mình đi theo con đường mà chính cha mẹ đã chọn, tuy nhiên cha mẹ hãy là người cung cấp một giao diện về thế giới để trang bị cho trẻ sự độc lập và khả năng theo đuổi ước mơ của mình

3. Chỉ bảo và hướng dẫn thích hợp cho trẻ em

Cũng đề cập đến vai trò và trách nhiệm của các bậc cha mẹ nhưng ở khía cạnh tinh thần, Điều 5 CRC yêu cầu các quốc gia thành viên phải tôn trọng trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ các bậc cha mẹ, hoặc trong trường hợp thích hợp, của các thành viên khác trong gia đình hay của những người giám hộ pháp lý trong việc chỉ bảo và hướng dẫn thích hợp cho trẻ em thực hiện những quyền được thừa nhận trong CRC, theo cách thức phù hợp với mức độ phát triển về năng lực của trẻ. Từ nội dung Điều 5 và xét trong mối quan hệ với các quyền khác của trẻ em được ghi nhận trong CRC, có thể thấy: Thứ nhất, sự chỉ bảo và hướng dẫn của cha mẹ, người thân trong gia đình hay người giám hộ pháp lý không bao gồm các biện pháp bạo lực về thể chất, tinh thần (với ý nghĩa là một hình thức kỷ luật để buộc trẻ phải tuân theo), và Thứ hai, không được áp đặt ý kiến của người lớn (dưới danh nghĩa sự chỉ bảo và hướng dẫn) với trẻ em khi các em đã ở mức độ trưởng thành nhất định về nhận thức. Liên quan đến khía cạnh trên, trong Bình luận chung số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 33 năm 2003, Ủy ban quyền trẻ em nêu rằng, để thực hiện quy định tại Điều 5, các bậc cha mẹ và những người có trách nhiệm khác có nghĩa vụ tạo lập một môi trường an toàn và cảm thông để trẻ em phát triển, trong đó cần phải quan tâm đến quan điểm của trẻ. Trẻ em cần phải được các thành viên khác trong gia đình thừa nhận như là các chủ thể của quyền và cần được chỉ bảo, hướng dẫn để trở thành các công dân tốt. Trong Bình luận chung số 7, Ủy ban cho rằng, quyền của cha mẹ trong việc chỉ bảo và hướng dẫn con cái luôn gắn liền với yêu cầu là họ phải hành động vì những lợi ích tốt nhất của trẻ (đoạn 16). Ủy ban cũng cho rằng Điều 5 yêu cầu các bậc cha mẹ và những người khác có trách nhiệm chỉ bảo và hướng dẫn trẻ em có trách nhiệm thường xuyên điều chỉnh sự chỉ bảo và hướng dẫn đó của họ để phù hợp với mức độ trưởng thành của trẻ ( đoạn 17).

4. Cách ly với cha mẹ

Mặc dù Công ước coi việc sống với cha mẹ là một quyền cơ bản của trẻ em nhưng vẫn dự kiến khả năng cho phép chủ động cách ly trẻ em khỏi cha mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt. Theo Điều 9 CRC, nguyên tắc cần tuân thủ trong vấn đề này là việc cách ly trẻ em khỏi cha mẹ chỉ có thể thực hiện nếu như điều đó mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ. Điều này cũng nêu ra một số hoàn cảnh trong đó có thể cách ly trẻ em khỏi cha mẹ, ví dụ như khi trẻ em bị cha mẹ lạm dụng, sao nhãng hoặc khi cha mẹ sống cách ly nhau và cần có một quyết định về nơi cư trú của trẻ (Khoản 1). Sự cách ly giữa trẻ em và cha mẹ chỉ có thể do một cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định với sự giám sát của tòa án hoặc của các cơ quan tư pháp khác, và trong các trường hợp như vậy, trẻ em có quyền được bày tỏ quan điểm, được duy trì quan hệ và tiếp xúc trực tiếp với cha, mẹ thường xuyên, trừ trường hợp điều đó không có lợi cho trẻ. Ngoài ra, Khoản 4 Điều 9 CRC còn đề cập những hoàn cảnh mà trẻ em bị cách ly khỏi cha mẹ một cách bị động, cụ thể là do kết quả của việc cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ của trẻ em, hay chính bản thân trẻ em, bị giam giữ, bỏ tù, trục xuất, lưu đày đi xa hay bị chết. Trong những hoàn cảnh này, CRC yêu cầu các quốc gia thành viên có liên quan phải cung cấp cho cha mẹ, cho đứa trẻ, hoặc nếu thích hợp, cho một thành viên khác của gia đình đứa trẻ những thông tin thiết yếu về địa chỉ của một hay nhiều thành viên vắng mặt của gia đình, trừ khi việc cung cấp thông tin như thế có thể gây tổn hại đến cuộc sống của đứa trẻ. Thêm vào đó, các quốc gia thành viên còn phải bảo đảm rằng, việc đề ra yêu cầu như vậy sẽ không tự nó gây nên những hậu quả có hại cho người (hoặc những người) có liên quan.

5. Đoàn tụ gia đình

Theo Điều 10, trẻ em có cha mẹ mà mỗi người cư trú ở các quốc gia khác nhau phải có quyền được duy trì quan hệ và tiếp xúc trực tiếp, đều đặn với cả cha và mẹ, trừ những hoàn cảnh đặc biệt không cho phép như vậy. Để thực hiện quyền này, trẻ em và cha mẹ của các em có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào cũng như có quyền trở về nước mình với mục đích đoàn tụ gia đình hoặc để duy trì quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Các quốc gia thành viên phải bảo đảm quyền này bằng cách xem xét thủ tục xuất, nhập cảnh cho trẻ em và cha mẹ một cách tích cực, nhân đạo và nhanh chóng. Thêm vào đó, các quốc gia thành viên cũng phải bảo đảm rằng, việc đưa một yêu cầu về đoàn tụ gia đình như thế sẽ không gây ra những hậu quả có hại cho những người đứng đơn yêu cầu và cho các thành viên gia đình họ. Mặc dù vậy, Điều 10 cũng lưu ý rằng, quyền xuất, nhập cảnh vì mục đích đoàn tụ gia đình của cha mẹ và trẻ em có thể phải chịu những giới hạn nhất định. Những giới hạn này chỉ có hiệu lực khi được pháp luật quy định và chỉ để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức và sức khoẻ của công chứng hoặc các quyền và tự do của người khác phù hợp với những quy định có liên quan trong CRC. Như vậy, trẻ em có quyền được đoàn tụ với gia đình, người thân.