Về bản chất, quan hệ dân sự được thiết lập trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận và tự do ý chí giữa các bên. Do đó, các bên tham gia quan hệ dân sự phải là các chủ thể có khả năng nhận thức, tự do ý chí, bình đẳng về khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, có những chủ thể vì những lý do nào đó mà không có khả năng nhận thức đầy đủ, không có tự do ý chí cũng như khả năng tự mình thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ dân sự như những đối tượng khác, do đó, khi tham gia giao dịch dân sự, họ không thể tự mình mà phải thông qua người khác để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không thể tự mình bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự.

Chào luật sư, mẹ tôi mất sớm, bố tôi năm nay 65 tuổi. Trước đây, bố tôi là một người bình thường khỏe mạnh, tuy nhiên thời gian gần đây bố tôi có dấu hiệu đãng trí. Gia đình tôi đưa ông đi khám bệnh và được bác sĩ chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer Gia đình tôi mọi giấy tờ liên quan đến nhà đất và tài sản đều đứng tên bố tôi, nhưng bố tôi hiện nay không đủ minh mẫn để tham gia vào các giao dịch dân sự. Vậy, gia đình tôi cần làm những thủ tục gì để được thay mặt bố thực hiện các giao dịch dân sự?

1, khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là gì?

Nói dễ hiểu thì năng lực hành vi dân sự nghĩa là khả năng bạn có thể tư mình ký kết và thực hiện các hợp đồng dân sự (ví dụ như ký và thực hiện hợp đồng mua bán, cầm cố, cho vay, V.V., chẳng hạn). Như vậy, nếu nói ai đó “có đầy đủ năng lực hành vi dân sự” thì điều đó nghĩa là người đó có thể nhận thức được mọi hành vi mà họ làm, không bị pháp luật hay cơ quan Nhà nước cấm làm bất kỳ điểu gì, và vì vậy họ hoàn toàn có thể tự mình ký kết và thực hiện mọi hợp đồng mà pháp luật cho phép.

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nghĩa là cá nhân đó vân còn có thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình nhưng khả nàng này bị hạn chế.

2, Những người nào được xác định có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

Căn cứ Điều 23 Bộ luật dân sự 2015 quy định về những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

“1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”

Trong thực tế cuộc sống, bạn có thể rất dễ dàng bắt gặp những người này, họ có thể là những người bị bệnh “down” hoặc bị các bệnh khác làm chậm phát triển trí tuệ. Ngoài ra, cũng có nhiều người vì bị các cú sốc vê' tâm lý khiến cho họ bị tâm thần nhưng chưa tới mức mất hoàn toàn nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì họ cũng có thể được xem là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Bên cạnh đó theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 thì người cao tuổi là người từ đủ 60 tuổi trở lên. Hầu hết người cao tuổi do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như Parkinson hoặc bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, không phải tất cả người cao tuổi đều gặp tình trạng có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Ngược lại, có những người rất cao tuổi nhưng họ lại rất sáng suốt, minh mẫn. Nên việc kết luận một cá nhân là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải dựa trên kết luận của tổ chức y tế có thẩm quyền.

3, Mục đích của việc xác định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Thứ nhất: Đây là để Tòa án chỉ định ra người sẽ chịu trách nhiệm quản lý tài sản và ký kết, thực hiện các hợp đổng thay cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo quy định của pháp luật hiện hành, người này sẽ được gọi là người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Thứ hai: Đảm bảo tối đa quyền lợi cuả những người vốn khi sinh ra hoặc vì một lý do nào đó họ không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình giống những người xung quay cùng độ tuổi và môi trường sống, khả năng tự bảo vệ của họ trước các tác động bên ngoài hạn chế hơn những người khác, bảo vệ tốt hơn các chủ thể yếu thế trong quan hệ dân sự.

Như vậy, tùy thuộc vào mức độ nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân bị bệnh hoặc bị hạn chế về thể chất mà bạn sẽ đánh giá để yêu cẩu Tòa án là tuyên người đó là mất năng lực hành vi dần sự hay chỉ là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp đã xác định được cá nhân đó chỉ gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chứ chưa hoàn toàn mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi, gia đình có thể thực hiện theo thủ tục như bên dưới để yêu cầu Tòa án tuyên người này là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

4, Thủ tục tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ tương tự như thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự.

Bước 1: Nộp hồ sơ pháp lý

Đối với phấn hổ sơ nộp cho Tòa án, bạn chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự;

- Bạn có thể đánh máy hoặc viết bằng tay đơn yêu cầu theo - Bản sao chứng thực các giấy tờ tùy thân của người nộp đơn và người được yêu cầu tuyên có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; và

- Các chứng cứ để chứng minh cho Tòa án thấy rằng yêu cầu của bạn là chính đáng và phù hợp pháp luật.

Bước 2: Tòa án thụ lý và đưa ra thông báo

Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu của bạn, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố một người là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo đó, tại quyết định này, Tòa án sẽ chỉ định một người làm người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đồng thời xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ mà người giám hộ sẽ có đối với cá nhân này.

5, Người giám hộ có trách nhiệm gì đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

Căn cứ Khoản 1 Điều 46 Bộ Luật Dân sự 2015 “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).”

Trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ được Tòa án chỉ định một người làm người giám hộ. Vậy, ai là người được quyền giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

Căn cứ Điều 49 Bộ luật Dân sự 2015 Điều kiện của người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi

Người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

– Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

– Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

– Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu. Nếu không, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự. Trường hợp không có người giám hộ theo cả hai quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.

Căn cứ Điều 57 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định về Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:

“1. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;

b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;

c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;

d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.”

Ngoài ra, Điều 58 Bộ Luật Dân sự cũng quy định về quyền của người giám hộ người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi bao gồm:

Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định sau đây:

– Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

– Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

– Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Như vậy, để công nhận người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, cần phải có đơn yêu cầu Tòa án thụ lý sau đó Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi.