1. Người đang bị phạt tù 6 tháng nhưng được hưởng án treo có được phép kinh doanh không?

Thưa luật sư, xin hỏi luật sư: Người bị phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng do vận chuyển pháo nổ vào dịp tết thì có được phép kinh doanh hay không ?

Xin cảm ơn luật sư !

Người gửi: H.T.D

>> Người bị phạt án treo có được kinh doanh, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp về điều kiện thành lập và đăng kí kinh doanh thì có hạn chế quyền của người đang chấp hành hình phạt tù. Cụ thể là tại điểm e khoản 2 Điều 17 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định:

"2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng..."

Như vậy,

Trường hợp của bạn nếu bạn đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù được hưởng án treo thì sẽ không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp.

>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

>> Xem thêm:  Điều lệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam là gì ? Vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam

2. Chồng đang bị án treo thì vợ có được kết nạp đảng không ?

Chào luật sư, tôi có vấn đề này còn thắc mắc, rất mong được sự tư vấn, giúp đỡ của luật sư. Xin hỏi chồng tôi đang bị án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì tôi có được kết nạp đảng không ?
Xin cảm ơn luật sư và quý công ty.

Chồng đang bị án treo thì vợ có được kết nạp đảng không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Căn cứ theo Hướng dẫn: 01 - HD/TW ngày 20 tháng 9 năm 2016, hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng:

''3.4- Thẩm tra lý lịch của người vào Đảng

a) Những người cần thẩm tra về lý lịch gồm:

- Người vào Đảng.

- Cha, mẹ đẻ, cha, mẹ vợ (chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân; vợ hoặc chồng, con đẻ của người vào Đảng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (sau đây gọi chung là người thân).

b) Nội dung thẩm tra, xác minh

- Đối với người vào Đảng: làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay; về chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

- Đối với người thân: làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay; việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Phương pháp thẩm tra, xác minh

- Nếu người vào Đảng có một trong các trường hợp sau đây đang là đảng viên: cha, mẹ đẻ, anh, chị, em ruột, con đẻ và trong lý lịch người vào Đảng đã khai đầy đủ, rõ ràng, trung thực theo quy định, thì không phải thẩm tra, xác minh.

Nếu vợ (chồng) người vào Đảng đang là đảng viên hoặc có một trong các trường hợp sau đây đang là đảng viên: cha, mẹ đẻ, anh, chị, em ruột và trong lý lịch của người vào Đảng đã khai đầy đủ, rõ ràng trung thực theo quy định, thì không phải thẩm tra, xác minh bên vợ (chồng).

...''

Như vậy, việc chồng bạn đang bị án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ảnh hưởng đến việc bạn muốn kết nạp vào Đảng, cụ thể bạn sẽ không được kết nạp Đảng vì chồng bạn (người thân) nằm trong mục Những người cần thẩm tra lý lịch khi bạn xét vào Đảng.

>> Tham khảo ngay: Khái niệm cải tạo không giam giữ ? án treo ? Phân biệt hình thức cải tạo không giam giữ và án treo theo quy định pháp luật

>> Xem thêm:  Quyền miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam ? Vấn đề cải cách tư pháp

3. Bị xử án treo về tội đánh bạc có phải đóng tiền phạt bổ sung không ?

Thưa luật sư! Tôi đánh bạc ăn tiền phạm vào khoản 1 điều 321 mà bi xử án treo có phải đóng tiền phạt bổ sung không và mức phạt bao nhiêu ạ? Xin cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tội đánh bạc được quy định như sau:

"Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Như vậy, bạn sẽ không phải đóng tiền phạt bổ sung nếu trong bản án đã quy định hình phạt là phạt tù cho hưởng án treo về hành vi đánh bạc mà không có quy định thêm về hình phạt bổ sung.

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn về điều kiện hưởng án treo mới nhất theo quy định của luật hình sự hiện nay ?

>> Xem thêm:  Tư vấn về mức hình phạt đối với tội ghi lô đề trái phép ?

4. Trộm cắp tài sản 32 triệu có được hưởng án treo không?

Kính thưa luật sư! nhờ luật sư tư vấn về hành vi của anh A. A trộm cắp tài sản của B trị giá 32 triệu đồng. Hành vi của A đã vi phạm vào khoản 1, điều 173 Bộ luật Hình sự. viện kiểm sát đưa ra mức án cải tạo không giam giữ 01 năm nhưng toà tuyên án A 18 tháng tù. Vậy hành vi của A khi kháng án có được hưởng án treo không?

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật."

Như vậy, anh A bị kết án không quá 3 năm tù, anh A kháng cáo để xem xét hưởng án treo, nếu thỏa mãn điều kiện của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

"Điều 65. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3.Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này."

>> Bài viết tham khảo thêm: Khái niệm án treo và điều kiện được hưởng án treo ?

5. Đang chấp hành hình phạt tù có được góp vốn kinh doanh?

Luật sư giải đáp thắc mắc giúp tôi, cho tôi hỏi người đang chấp hành án phạt tù có được góp vốn vào doanh nghiệp không?, xin cảm ơn!

Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 luật doanh nghiệp 2020 thì:

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.

Như vậy,

- Nếu doanh nghiệp là Công ty cổ phần thì người đang chấp hành án phạt tù vẫn có quyền góp vốn vào công ty dưới dạng là cổ đông góp vốn.

- Nếu doanh nghiệplà Công ty hợp danh thì người đang chấp hành án phạt tù vẫn có quyền góp vốn vào công ty dưới dạng là thành viên góp vốn.

- Nếu doanh nghiệp là Công ty TNHH thì người đang chấp hành án phạt tù không thể góp vốn. Vì khi người đang chấp hành án phạt tù góp vốn vào công ty TNHH thì sẽ là thành viên hội đồng thành viên và là người quản lý doanh nghiệp. Mà theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2030 thì người đang chấp hành án phạt tù không được là người quản lý doanh nghiệp.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn 24/7: 1900.6162 đểnhận được sự hỗ trợ, tư vấn của luật sư/ chuyên viên tư vấn Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thông báo và yêu cầu bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm về án treo theo luật hình sự?

Trả lời:

Theo Điều 1, Nghị quyết số 02/2018 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Câu hỏi: Những điều kiện để được hưởng án treo?

Trả lời:

 - Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

– Có nhân thân tốt.

– Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

– Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

– Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Không thuộc trường hợp không được hưởng án treo

Người phạm tội phải có đủ các điều kiện trên.

Câu hỏi: Bị án treo có bị sa thải lao động?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019:

Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động

Như vậy, người hưởng án treo không thuộc trường hợp bị sa thải.