1. Người lao động đã nghỉ hưu được tiếp tục ký HĐLĐ 

Hiện nay, theo quy định hiện hành của Bộ luật lao động năm 2019, tại Điều 148 có quy định rõ ràng, những người lao động đã về hữu mà vẫn tiếp tục đi làm thì được xếp vào nhóm người lao động cao tuổi. Ngoài ra, người lao động cao tuổi còn có quyền thoả thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời gian làm việc hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọng thời gian.

Như vậy, khi người đã nghỉ hưu, người lao động tiếp tục đi làm vẫn sẽ được ký hợp đồng lao động bình thường. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích  sử dụng nguồn lao động cao tuổi tiếp tục  làm việc nhằm hiệu quả nguồn nhân lực, kèm theo đó, nhóm người lao động cao tuổi sẽ được luật pháp ưu tiên một số đặc quyền, cụ thể như sau: 

- Người lao động cao tuổi không phải làm công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người lao động cao tuổi, trừ một số trường hợp đảm bảo được các điều kiện của việc an toàn.

- Người lao động cao tuổi được thoả thuận với người sử dụng lao động về vấn đề rút ngắn giờ làm hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọng thời gian để đảm bảo quyền lao động và phù hợp với tình trạng sức khoẻ. 

- Ngoài quyền lợi đang được hưởng theo chế độ hưu trí của người lao động cao tuổi, họ còn được hưởng tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật và sự thoả thuận của đôi bên được ghi nhận trong hợp đồng lao động. 

 

2. Người lao động đã về hưu và đang được hưởng lương hưu mà ký kết HĐLĐ thì có thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc không?

Hiện nay, người lao động là công dân Việt Nam, làm việc theo Hợp đồng lao đông không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động theo thời vụ hoặc theo một số công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng kể cả hợp đồng lao động đã được ký kết giữa đơn vị và người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi như theo quy định của pháp luật hiện hành. Và người lao động theo Hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng thì đều thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Như vậy, ta có thể khẳng định hầu hết những người làm việc theo hợp đồng lao động đều thuộc đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Mặt khác, tại khoản 9 Điều 123, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 lại quy định người hưởng lương hưu mà đăng ký kết hợp đồng lao động với một doanh nghiệp thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. 

Vậy người lao động cao tuổi, đã về hưu, đang hưởng lương hưu mà ký kết hợp đồng lao động thì không phải là đối tượng đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hiểu một cách đơn giản, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong trường hợp này là không phải đóng bảo hiểm bắt buộc. Do đó, người đang hưởng lương hưu thì không phải đóng bảo hiểm xã hội. 

 

 3. Doanh nghiệp có cần đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động là người đã về hưu và đang hưởng lương hưu hay không? 

Theo phần phân tích bên trên, người lao động cao tuổi đang được hưởng lương hưu không thuộc đối tượng đóng Bảo hiểu xã hội bắt buộc. Và theo quy định tại khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019 thì đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. 

Như vậy, doanh nghiệp không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động là người đã về hưu và đang hưởng lương hưu. Nhưng người lao động cao tuổi lại được hưởng thêm những khoản tiền sau từ doanh nghiệp: ngoài tiền lương được trả theo công việc như trong hợp đồng lao động thì doanh nghiệp còn có trách nhiệm chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền cho người lao động tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động cao tuổi. 

 

4. Các câu hỏi liên quan đến Bảo hiểm xã hội

Câu 1: Người trên 80 tuổi là người có công vói cách mạng thuộc diện được hưởng quyền lợi Bảo hiểm y tế theo hai mức, đó là: hưởng 100% chi phí điều trị. Tuy nhiên, người này cũng được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng nên không được cấp thẻ Bảo hiểm y tế. Người có công vơi cách mạng hoặc người cao tuổi mà lại được cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo đối tượng người cao tuổi hướng tuất hàng tháng và mức hưởng Bảo hiểm y tế là mức 4 ( 80% chi phí điều trị ). Hỏi:

- Có văn bản của Bộ y tế quy định nào như vậy hay không? Và có thì văn bản đó có trái với quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế 2014 hay không? Tại sao?

- Nếu không được hưởng quyền lại Bảo hiểm  y tế 100% thì người này có được yêu cầu bỏ không hưởng chế động tuất hàng tháng nữa để được tham gia Bảo hiểm y tế theo đối tượng Người có công với cách mạng được không? Và hồ sơ như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ theo nội dung Công văn số 6425/ BTY - BH ngày 28/ 8 / 2015 của Bộ y tế về việc giải quyết vướng mắc trong cấp thẻ Bảo hiểm y tế, thì chỉ người cao tuổi từ 80 tuổi trở kên thuộc các đối tượng: người có công với cách mạng, cựu chiến binh, người thuộc diện hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng, người thuộc hệ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại cùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, người đang sinh sống tại xã, đảo, huyện đảo, thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ mới được hưởng 100 % chi phí khám chữa bệnh. 

Như vậy, đối với trường hợp trên, người này đã trên 8 tuổi và là người có công với cách mạng thì thì đối tượng được hưởng 100 % chi phí khám chữa bệnh.

Câu 2: Tôi có thời gian làm việc tại Doanh nghiệp nước ngoài từ 7/1988. Đến 11/1993 thì tôi chuyển công tác đến Doanh nghiệp nước ngoài ( một đối tác của Doanh nghiệp trên ). Đến tháng 12/1993 tôi xin nghỉ việc. Từ tháng 10 / 1997 đến nay tôi đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Thời gian làm việc tại khu vực nhà nước của tôi trước năm 1995 chưa được thể hiện trên sổ Bảo hiểm xã hội đồng thời chưa nhận được bất kỳ trợ cấp gì. Tôi có làm hồ sơ xin cộng nối thời gian làm việc tại khu vực Nhà nước trước năm 1995 vào sổ Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên Bảo hiểm xã hội trả lời tôi không làm việc liên tục đến 1/1/1995 mà chỉ đến 11/1993 nên không được. Tôi được biết khoản 6 Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định Người lao động làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 1/1/ 1995 mà chưa nhận được trợ cấp thôi việc hay trợ cấp 1 lần Bảo hiểm xã gội thì thời gian làm việc trước 1/1/ 1995 đó được tính là thời gian đã đóng Bảo hiểm xã hội. Vậy tôi xin hỏi tại sao tôi không được chấp nhận và nếu gián đoạn như vậy thì nên giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 23 Nghị định 115/ 2015/ NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm về Bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau: Người lao động có thời gian công tác gián đoạn hoặc đã nghỉ việc trước ngày 1/ 1/ 1995 thì việc xác định thời gian công tác để tính hưởng Bảo hiểm xã hội được thực hiện theo các văn bản quy định trước đây về thời gian công tác trước ngày 01/01/ 1995 để hưởng Bảo hiểm xã hội.

Đối với trường hợp này, thì đây thuộc đối tượng được quy định tại khoản c Điều 12 Thông tư 13/ NV ngày 4 /9/ 1972 của bộ Nội vụ. Nên thời gian công tác từ tháng 7/ 1988 đến 11/ 1993 không được tính là thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội để tính hưởng Bảo hiểm xã hội. 

Trên đây là bài viết của công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi về vấn đề Người lao động là người đã về hưu và đang hưởng lương hưu thì Doang nghiệp có phải đóng BHXH, BHYT, BHTN hay không. Xin mới quý bạn đọc theo dõi thêm bài viết liên quan: Mức đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương mới nhất.

Hiện nay, quý bạn đọc đang có bất kỳ những thắc mắc nào  về pháp luật cần được giải đáp, xin liên hệ trực tiếp đến tổng đài tư vấn 1900.6162 hoặc quý bạn đọc cũng có thể gửi yêu cầu trực tiếp đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được đội ngũ tư vấn viên của chúng tôi giải đáp thắc mắc cho bạn một cách nhanh chóng vào chính xác nhất. Xin cảm ơn sự theo dõi và quan tâm của bạn. Trân trọng./.