1. Người lao động nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần báo trước?
Thử việc, còn được gọi là thử việc làm hoặc thử việc nghề nghiệp, là một giai đoạn ngắn khi một cá nhân được mời làm việc tại một công ty hoặc tổ chức mà vẫn chưa được xem xét là nhân viên chính thức. Trong thời gian thử việc, người lao động sẽ ký hợp đồng tạm thời hoặc hợp đồng thử việc, thường kéo dài từ vài tháng đến một năm, phụ thuộc vào quy định của công ty.
Mục tiêu của giai đoạn thử việc là cung cấp cơ hội cho cả công ty và người lao động để kiểm tra sự phù hợp giữa họ. Công ty sẽ đánh giá hiệu suất làm việc của người thử việc và quyết định xem họ có nên trở thành nhân viên chính thức hay không. Trong khi đó, người thử việc cũng có cơ hội khám phá về công ty, công việc và môi trường làm việc để xác định liệu họ có muốn tiếp tục làm việc ở đó hay không.
Thường thì trong giai đoạn thử việc, người lao động sẽ nhận được một phần của các phúc lợi và lương mà họ sẽ được hưởng sau khi trở thành nhân viên chính thức. Nếu cả hai bên đều hài lòng sau giai đoạn thử việc, người thử việc sẽ được chấp nhận làm nhân viên chính thức và sẽ có các quyền lợi và trách nhiệm tương tự như các nhân viên khác.
Khoản 2 của Điều 27 trong Bộ luật Lao động 2019 đã quy định về việc kết thúc thời gian thử việc như sau:
- Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động. Trong trường hợp thử việc đạt yêu cầu, người sử dụng lao động sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hiện có nếu đã có thoả thuận thử việc trong hợp đồng, hoặc phải ký kết hợp đồng lao động mới nếu đã ký kết hợp đồng thử việc. Trong trường hợp thử việc không đạt yêu cầu, hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thử việc sẽ bị chấm dứt.
- Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã ký kết mà không cần thông báo trước và không phải bồi thường.
Do đó, theo quy định như trên, trong trường hợp người lao động đang trong thời gian thử việc mà muốn nghỉ việc, không cần phải thông báo trước cho người sử dụng lao động. Người lao động thử việc cũng không phải bồi thường nếu công việc thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận; và họ hoàn toàn không phải chịu xử phạt lao động. Hơn nữa, công ty vẫn có trách nhiệm thanh toán đầy đủ lương theo mức đã thỏa thuận và cho số ngày làm việc của người lao động.
2. Không trả lương cho lao động thử việc nghỉ ngang sẽ xử phạt như thế nào?
Theo khoản 2 của Điều 17 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt như sau nếu không trả lương cho người lao động theo thỏa thuận:
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động trong các trường hợp sau:
- Trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật.
- Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động.
- Ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.
- Khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công.
- Không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.
- Không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật.
- Không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động.
Các mức phạt tiền như sau:
+ Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động.
+ Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động.
+ Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động.
+ Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động.
+ Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Ngoài ra, theo quy định tại điều 17 khoản 5 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Buộc người sử dụng lao động phải trả đủ số tiền lương cộng với tiền lãi tương ứng với số tiền lương bị chậm trả hoặc trả thiếu cho người lao động, tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều này.
- Buộc người sử dụng lao động phải trả đủ số tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cộng với tiền lãi tương ứng với số tiền đó, tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm vi phạt cho người lao động đối với vi phạm quy định tại khoản 4 của Điều này.
Theo đó, việc không trả lương thử việc cho người lao động sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền có thể lên đến 50.000.000 đồng tùy thuộc vào số lượng người vi phạm.
Lưu ý: Theo quy định tại khoản 1 của Điều 6 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức xử phạt hành chính nêu trên chỉ áp dụng đối với cá nhân. Trong trường hợp tổ chức vi phạm, mức phạt hành chính sẽ được gấp đôi so với cá nhân.
Ngoài ra, người vi phạm cũng phải chịu các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc người sử dụng lao động phải trả đủ số tiền lương cộng với tiền lãi tương ứng với số tiền lương bị chậm trả hoặc trả thiếu cho người lao động, tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm.
3. Thời gian thử việc được quy định như thế nào?
Tại khoản 1 của Điều 25 trong Bộ luật Lao động 2019, có quy định về thời gian thử việc như sau:
Thời gian thử việc được thỏa thuận bởi cả hai bên dựa trên tính chất và độ phức tạp của công việc, nhưng chỉ được giới hạn dưới các điều kiện sau đây:
- Không vượt quá 180 ngày đối với các vị trí quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý và Sử dụng Vốn Nhà nước Đầu tư vào Sản xuất Kinh doanh tại Doanh nghiệp.
- Không vượt quá 60 ngày đối với các vị trí yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đẳng trở lên.
- Không vượt quá 30 ngày đối với các vị trí yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
- Không vượt quá 06 ngày làm việc đối với các vị trí công việc khác.
Do đó, thời gian thử việc được hai bên thỏa thuận tùy thuộc vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc, và phải tuân theo các điều kiện quy định sau đây:
- Không vượt quá 180 ngày đối với công việc quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý và Sử dụng Vốn Nhà nước Đầu tư vào Sản xuất Kinh doanh tại Doanh nghiệp.
- Không vượt quá 60 ngày đối với công việc yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.
- Không vượt quá 30 ngày đối với công việc yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
- Không vượt quá 06 ngày làm việc đối với các công việc khác.
Bài viết liên quan: Quy định về nghỉ việc trong thời gian thử việc như thế nào?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Người lao động nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần báo trước? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!