Diễn biến sự việc như sau:

- Ngày15/12/2012 chi Na có nộp đơn xin chấm dứt HĐLĐ và xin chấm dứt HĐLĐ vào ngày 1/3/2013.Lý do chăm sóc gia đình.

- Ngày 29/12/2012 do có nhiều kkhăn. nhà máy ra thông báo cho những người có đơn xin chấm dứt chia sẻ khó khăn, khi đăng ký cho phép sẽ giải quyết chấm dứt theo nguyện vọng.

- Ngày 15/1/2013 nhà máy ra thong báo cho những người đủ điều kiện về hưu biết trong đó có bà Na.

Bà Na vẫn đi làm bình thường đền ngày 14/3/2013 bà na có thông báo về việc bà chấm dứt HĐLĐ vào ngày 15/3/2013 và bà Na đã nghỉ việc luôn. Căn cứ vào khoản b mục 3 thông tư 21/2003 ngày22/9/2003, và điều 14 nghị định 44/2003/NĐ- CP. Đong thời căn cứ vào qui chể của công ty như đã nêu ở trên. Ngay 15/3/2013 nhà máy ra thông báo cho bà Na được nghỉ việc từ ngày 15/3/2013 và đươc hưởng nguyên lương tháng 3 và tháng4 và làm thủ tục về nghỉ hưu. Tuy nhiên bà Na không chịu đòi chấm dứt HĐLĐ từ ngày 15/3/2013 để huởng trợ cấp thôi việc.
Hỏi nhà máy làm vậy đúng hay sai?
Trường hợp nhà máy chấm dứt HĐLĐ cho bà Na nhưng không trả trợ cấp thôi việc có được không?
Rất mong được luật sư tư vấn giúp, tôi xin chân trọng cảm ơn.

 Trả lời:

>> Xem thêm:  Tư vấn luật hành chính miễn phí qua tổng đài: 1900.6162

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới văn phòng chúng tôi, tôi đưa ra hướng giải quyết như sau:
Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2012;

- Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 26/5/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH.

Bạn thân mến, dựa trên những thông tin bạn cung  cấp, tôi xác định trường hợp của bạn rơi vào một trong  hai trường hợp chấm dứt HĐLĐ quy định tại Điều 36 BLLĐ năm 2012 như sau: hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ và người sử dụng lao động cho người lao động chấm dứt HĐLĐ vì lý do kinh tế.

Có hai vấn đề cần quan tâm trong trường hợp của bạn là thời gian chấm dứt HĐLĐ  và khoản trợ cấp về quyền lợi cho bà Na:

Thứ nhất: Về thời gian chấm dứt HĐLĐ:  Ngày 29/12/2012 do có nhiều khó khăn, nhà máy ra thông báo cho những người có đơn xin chấm dứt chia sẻ khó khăn, khi đăng ký cho phép sẽ giải quyết chấm dứt theo nguyện vọng; bà Na lại có nhu cầu xin chấm dứt HĐLĐ vào ngày 1/3/2013; điều này có nghĩa là công ty có thể cho bà Na thôi việc vì lý do kinh tế hoặc do thỏa thuận hai bên. Ngày 15 /3/2013, công ty chấm dứt HĐLĐ với bà Na; so với thời gian về nghĩ hưu thì bà Na đã được về nghĩ hưu trước 1 tháng 7 ngày.  Tuy nhiên,  công ty có qui chế qui định người về nghỉ hưu được nghỉ trước 3 tháng để làm thủ tục và được hưởng nguyên lương nếu người lao động có nhu cầu. Do đó,  thời gian chấm dứt HĐLĐ của công ty đối với bà Na là phù hợp.

Thứ hai: Vấn đề về trả trợ cấp thôi việc: HĐLĐ chấm dứt theo thỏa thuận hai bên hay theo trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc vì lý do kinh tế thì quyền lợi của bà Na được xác định như sau:

Tại Khoản1 Điều 48 BLLĐ năm 2012 quy định: “Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”. Theo đó, công ty khi chấm dứt HĐLĐ với bà Na thì cần phải chi trả trợ cấp thôi việc cho bà Na. Việc chi trả trợ cấp thôi việc được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 26/5/2009 sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH  như sau:  Tiền trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc X Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc X ½ .  Bạn lưu ý thời gian làm việc được làm tròn như sau:
- Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành ½ năm
- Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

Ngoài ra,  khi chấm dứt  HĐLĐ , theo quy định tại Điều 47 BLLĐ năm 2012 thì bạn có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Mặt khác, tại khoản 2 Điều 44 BLLĐ có quy định “Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, trường hợp của bà Na là bà đã đến tuổi về hưu, và theo như quy chế của công ty đưa ra thì trường hợp chấm dứt HĐLĐ đối với bà Na thì bà Na  chỉ được hưởng trợ cấp thôi việc. Do vậy, khi chấm dứt HĐLĐ với bà Na thì công ty chỉ phải chi trả trợ cấp thôi việc  mà không phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho bà Na.
Chúc công ty bạn hoạt động tốt!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê 
---------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động

2. Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam

4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật nghĩa vụ quân sự miễn phí qua tổng đài điện thoại

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại