1. Hiểu thế nào là tâm thần?
Tâm thần là một loại bệnh lý mà xuất hiện do sự rối loạn trong hoạt động của não bộ. Sự rối loạn này có thể dẫn đến những biến đổi đặc biệt và không bình thường trong lời nói, hành vi, tình cảm và ý tưởng của người mắc bệnh. Các dạng bệnh tâm thần phổ biến thường bao gồm:
- Chứng rối loạn lo âu: Người mắc bệnh có xu hướng trải qua cảm giác sợ hãi, căng thẳng và lo lắng không lý do. Cảm giác này có thể xuất phát từ các tác nhân nội tại hoặc từ môi trường xung quanh.
- Bệnh trầm cảm: Đây là một tình trạng tâm lý mà người bệnh trải qua cảm giác buồn bã, mất hứng thú và không có khả năng tận hưởng hoặc tham gia vào các hoạt động hàng ngày một cách bình thường.
- Chứng tâm thần phân liệt: Bệnh này thường đi kèm với việc mất liên kết với thực tại, người bệnh có thể trải qua các trạng thái hồi hộp hoặc tin rằng họ đang bị kiểm soát bởi các lực lượng siêu nhiên hoặc không kiểm soát được suy nghĩ và hành vi của mình.
- Các hành vi gây nghiện hoặc bị rối loạn ăn uống: Các bệnh này có thể bao gồm nghiện ngập, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, hoặc các rối loạn về ăn uống như bệnh buồn ngủ hoặc anorexia nervosa.
Những dạng bệnh tâm thần này có thể gây ra nhiều vấn đề không chỉ cho người bệnh mà còn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và mối quan hệ xã hội của họ. Điều quan trọng là nhận biết và điều trị kịp thời để giúp người bệnh ổn định tâm trạng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Theo Quyết định 2999/QĐ-BYT ngày 03/11/2022 danh mục 30 bệnh tâm thần/rối loạn tâm thần thường gặp trong giám định pháp y bao gồm:
Mất trí trong bệnh pick (F02.0)
- Mất trí không biệt định (F03)
- Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cần sa (F12)
- Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng cocaine (F14)
- Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích khác bao gồm cafeine (F15)
- Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2)
- Rối loạn loạn thần đa dạng cấp với các triệu chứng của tâm thần phân liệt (F23.1)
- Hưng cảm nhẹ (F30.0)
- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp (F31.6)
- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F31.7)
- Giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)
- Giai đọan trầm cảm vừa (F32.1)
- Rối loạn trầm cảm tải diễn, hiện tại thuyên giảm (F33.4)
- Khí sắc chu kỳ (F34.0)
- Rối loạn hoảng sợ (F41.0)
- Rối loạn lo âu lan tỏa (F41.1)
- Phản ứng trầm cảm ngắn (F43.20)
- Phản ứng trầm cảm kéo dài (F43.21)
- Phản ứng hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F43.22)
- Sững sờ phân ly (F44.2)
- Các rối loạn vận động phân ly (F44.4).
- Co giật phân ly (F44.5)
- Các rối loạn phân ly (chuyển di) hỗn hợp (F44.7)
- Rối loạn cơ thể hóa (F45.0)
- Xu hướng tình dục quá mức (F52.7)
- Các rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.0)
- Các rối loạn tâm thần và hành vi nặng, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, không phân loại ở nơi khác (F53.1)
- Biến đổi nhân cách kéo dài sau trải nghiệm sự kiện bi thảm (F62.0)
- Biến đổi nhân cách kéo dài sau bệnh tâm thần (F62.1)
- Loạn dục trẻ em (F65.4)
2. Người tâm thần có được thực hiện giao dịch dân sự không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự như sau:
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực" thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
Theo đó thì người đại diện theo pháp luật của người bị tâm thần bao gồm:
- Người được lựa chọn tại thời điểm người này chưa bị tâm thần
- Vợ hoặc chồng
- Con nếu cha mẹ hoặc một trong hai người bị tâm thần
- Cha, mẹ nếu người bị tâm thần đã thành niên, chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà những người này không đủ điều kiện
Như vậy, theo quy định nêu trên người tâm thần bắt buộc phải được Tòa án tuyên bố bằng quyết định thì mới được coi là mất năng lực hành vi dân sự. Nếu chưa có Quyết định của Tòa án tuyên bố người này mắc bệnh tâm thần thì vẫn được toàn quyền tự mình thực hiện giao dịch dân sự.
3. Hệ quả pháp lý giao địch được thực hiện bởi người tâm thần
Theo quy định của pháp luật, đối với những giao dịch do người mắc bệnh tâm thần thực hiện, Tòa án có thể tuyên giao dịch đó là vô hiệu nếu giao dịch đó phải được người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, như quy định tại khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 của cùng điều luật này, giao dịch dân sự do người mắc bệnh tâm thần thực hiện không bị tuyên vô hiệu trong hai trường hợp sau:
- Giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó.
- Giao dịch dân sự chỉ tạo ra quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ.
Như vậy, trong những trường hợp cần thiết và những giao dịch cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, giao dịch dân sự của người mắc bệnh tâm thần có thể được công nhận và không bị tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, trong các tình huống khác, khi có nguy cơ mất quyền lợi hoặc gây ra hậu quả không mong muốn, Tòa án có thể can thiệp để bảo vệ quyền lợi của người mắc bệnh tâm thần và các bên liên quan.
Ngoài hai trường hợp giao dịch dân sự được công nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Dân sự năm 2015, những giao dịch khác của người mắc bệnh tâm thần phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện thì mới được coi là có hiệu lực. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người mắc bệnh tâm thần, đồng thời giảm thiểu nguy cơ gây ra các hậu quả không mong muốn do sự rối loạn tâm thần.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, giao dịch dân sự vô hiệu không làm thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự bị tuyên vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được. Trong trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật, trị giá của hiện vật sẽ được quy đổi thành tiền để hoàn trả. Bên nào có lợi tức từ giao dịch, họ không cần phải hoàn trả lại phần lợi tức đó. Nếu một trong các bên gây thiệt hại do vi phạm hợp đồng, họ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Điều này giúp duy trì sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia vào giao dịch.
Xem thêm: Giao dịch dân sự do người bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện có hiệu lực không?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Người tâm thần có được thực hiện giao dịch dân sự không? của Bộ Y tế mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!