- 1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong BLTTHS 2015
- 2. Quyền được bảo vệ
- 3. Quyền được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
- 4. Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
- 5. Lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
- 6. Những hạn chế, bất cập
1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong BLTTHS 2015
Tố giác và báo tin về tội phạm là những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 100 và được cụ thể hóa hơn tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Trong đó có ba căn cứ liên quan đến tố giác, tin báo là: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, người tố giác, báo tin về tội phạm và kiến nghị khởi tố mặc dù là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nhưng lại không được pháp luật quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ pháp lý cần thiết và vì vậy, trong nhiều trường hợp hạn chế khả năng tham gia tố tụng của họ, ảnh hưởng đến hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm. Do vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố là người tham gia tố tụng hình sự. Theo đó, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:
- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa;
- Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức nói trên phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình biết về sự việc.
2. Quyền được bảo vệ
Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại, người tố giác có quyền đề nghị được bảo vệ; được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ.
Đồng thời, người tố giác có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ; giữ bí mật thông tin bảo vệ; thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi vấn trong thời gian được bảo vệ.
Các biện pháp bảo vệ được áp dụng gồm:
a) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;
b) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;
c) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;
d) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;
đ) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;
e) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
3. Quyền được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Theo Khoản 4 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết.
Khi kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải gửi kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại các điều 148, 154, 158 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết kết quả giải quyết vụ việc.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải gửi quyết định phục hồi cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
4. Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Theo Khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Người tố giác có quyền tự mình khiếu nại hoặc ủy quyền cho người khác khiếu nại; Được quyền rút lại khiếu nại; Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
- Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
- Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
5. Lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
BLTTHS 2015 tại Điều 96 đã quy định lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm là một nguồn chứng cứ, theo đó:
Người tố giác, báo tin về tội phạm trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm. Bộ luật này cũng đã quy định về quyền hạn của người có thẩm quyền trong việc triệu tập, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, như:
- Người có quyền hạn triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm: Điều tra viên (điểm d khoản 1 Điều 37 BLTTHS 2015); Kiểm sát viên (điểm g khoản 1 Điều 42 BLTTHS 2015); Cấp trưởng, cấp phó của các Cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm đ khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015); Cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm đ khoản 2 Điều 40 BLTTHS 2015).
- Người có quyền hạn lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm: cán bộ điều tra của các Cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm c khoản 4 Điều 39 BLTTHS 2015); Cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm c khoản 3 Điều 40 BLTTHS 2015).
6. Những hạn chế, bất cập
Mặc dù đã ghi nhận địa vị pháp lý, quy định quyền và nghĩa vụ cho người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhưng BLTTHS 2015 vẫn còn một số hạn chế nhất định:
- Tại Điều 96 Bộ luật này mới chỉ quy định về lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm và quyền hạn triệu tập, lấy lời khai của họ. Bộ luật này chưa có quy định về lời khai của người kiến nghị khởi tố (cơ quan, tổ chức) và thẩm quyền triệu tập, lấy lời khai của họ. Vậy nên, khi cần triệu tập, lấy lời khai của người kiến nghị khởi tố, người có thẩm quyền sẽ gặp vướng mắc khi không biết phải căn cứ vào quy định nào và phạm vi lấy lời khai của họ ra sao?
- Bộ luật này cũng thiếu quy định về trình tự, thủ tục triệu tập, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
- Để khắc phục các hạn chế trên, cơ quan có thẩm quyền cần phải:
Thứ nhất, bổ sung quyền hạn triệu tập, lấy lời khai người kiến nghị khởi tố bằng việc bổ sung cụm từ “kiến nghị khởi tố” sau cụm từ “người tố giác, báo tin về tội phạm” tại các Điều 37 (điểm d khoản 1), Điều 39 (điểm đ khoản 2, điểm c khoản 4), Điều 40 (điểm đ khoản 2, điểm c khoản 3), Điều 42 (điểm g khoản 1) BLTTHS 2015.
Thứ hai, Thêm cụm từ “kiến nghị khởi tố” vào Điều 96 BLTTHS 2015.
Thứ ba, bổ sung 01 điều luật quy định về trình tự, thủ tục triệu tập, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm & Biên tập)