1. Tính hệ thống của hệ thống pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa dạng về hình thức, đồ sộ về số lượng, không được thường xuyên rà soát, hệ thống hoá khiến người dân rất khó tiếp cận, tìm hiểu và tuân thủ đúng yêu cầu của pháp luật. Do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều cấp ban hành nên mâu thuẫn và chổng chéo là khó tránh khỏi. Sự cồng kềnh, bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính thống nhất, minh bạch của pháp luật, làm cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu, khó áp dụng và vì thể kém hiệu lực. Với hệ thống pháp luật như vậy, nên việc hiểu để áp dụng và thực hiện pháp luật là chuyện khó khăn không chỉ đối với người dân, doanh nghiệp mà còn đối với cả các chuyên gia pháp lý.

Các văn bản luật và văn bản dưới luật chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành. Những mâu thuẫn giữa Luật nhà ở, Luật đất đai, Bộ luật dân sự về một số vấn đề (như hiệu lực các giao dịch, về căn cứ xác định sở hữu, đăng ký quyền sở hữu...) mà công luận đã nêu là ví dụ cho việc thiếu tính thống nhất của pháp luật nước ta hiện nay.

2. Tính toàn diện, đồng bộ, cân đối của hệ thống pháp luật không cao

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, còn một số lĩnh vực của đời sống xã hội vẫn chưa có luật điều chỉnh. Số lượng văn bản trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, đặc biệt là pháp luật về quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân còn chưa được hoàn thiện (chỉ có 10 luật, pháp lệnh, chiếm 8,6%), pháp luật về đối ngoại (04 luật, pháp lệnh, chiếm 0,4%). Nhiều dự án luật trong các lĩnh vực này như Luật về hội, Luật tiếp cận thông tin... mặc dù đã đưa vào chương trình và được soạn thảo nhiều năm nhưng vẫn chưa được ban hành. Văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng thường được sửa đổi chậm hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật về nội dung. Trong một số lĩnh vực, các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành thiếu ổn định, thường xuyên phải sửa đổi. Nhiều nội dung trong các nghị quyết của Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, giáo dục, an ninh, quốc phòng... chậm được thể chế hóa.

Văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương ban hành chiếm một tỷ trọng quá lớn trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Tình trạng trong cùng một lúc, về cùng một vấn đề, một lĩnh vực lại có nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan khác nhau ban hành ở các thời điểm khác nhau đã gây nên sự chồng chéo, mâu thuẫn về nội dung giữa các văn bản quy phạm pháp luật; tình trạng khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới không ghi rõ những văn bản quy phạm pháp luật, các điều khoản liên quan bị thay thê' hoặc bị bãi bỏ diễn ra khá phổ biến, làm cho hệ thống pháp luật rườm rà, khó áp dụng, khó kiểm soát và khó tiếp cận. Trong khi đó, cơ chế kiểm tra, giám sát trước và sau về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành, địa phương ban hành chưa được tổ chức thực hiện tốt trên thực tế.

Phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật chưa được xác định rõ, chưa xuất phát từ tính chất, đặc thù của các quan hệ xã hội trong mỗi lĩnh vực để lựa chọn phương pháp và "điểm dừng" hợp lý trong điều chỉnh bằng pháp luật. Một số lĩnh vực chưa có luật, phải điều chỉnh bằng văn bản dưới luật. Một số lĩnh vực đã có luật, pháp lệnh nhưng luật, pháp lệnh thường chỉ dừng lại ở những quy định "khung", còn nhiều vấn đề cụ thể, thậm chí, cả những vấn đề thuộc tầm chính sách hoặc liên quan trực tiếp đêh quyền con người, quyền công dân cũng dành cho văn bản dưới luật quy định. Thực trạng đó dẫn đêh luật đã có hiệu lực nhưng không được thi hành vì phải chờ văn bản quy định chi tiết, trong khi các văn bản này thường được ban hành chậm, không đồng bộ, có trường hợp mất đến 3-5 năm sau khi luật, pháp lệnh có hiệu lực. Nhiều bộ luật, đạo luật thiêu cơ chế tổ chức thực hiện về tổ chức, nhân sự kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác nên hiệu lực thi hành thấp.

3. Hệ thống pháp luật có tính ổn định thấp

Nhiều văn bản pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế tài chính, ngân hàng... thường xuyên thay đổi. Nguyên nhân khách quan của tình trạng này là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển năng động và phức tạp của các quan hệ kinh tế- xã hội, những biến động do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khu vực. Nguyên nhân chủ quan là do khả năng dự báo, điều tiết các quan hệ kinh tê' thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạch định chính sách... thiếu tầm nhìn chiến lược. Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp luật "tuổi thọ" ngắn, thậm chí, vừa ban hành đã phải đình chỉ thi hành hoặc sửa đổi, bổ sung. Pháp luật thường xuyên thay đổi, gây khó khăn cho người thực hiện và tác động xấu đến sự ổn định của các quan hệ kinh tế- xã hội.

Thực trạng này dẫn đến một hệ lụy khác là nhiều cơ quan soạn thảo có xu hướng ban hành các văn bản chứa đựng "tuyên ngôn chính sách" nhiều hơn là các quy phạm pháp luật. Nhiều quan hệ xã hội đòi hỏi phải được điều chỉnh cụ thể, chi tiết như quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước thì lại được điều chỉnh bằng các luật "khung", luật "ống". Nhiều luật giao cho Chính phủ ban hành nghị định để cụ thể hóa; đêh lượt nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành hướng dẫn thực hiện. Thực tế này làm nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc triển khai thi hành pháp luật như vậy làm cho pháp luật không thể đi vào cuộc sống kịp thời, vì còn phải chờ văn bản của các cấp khác nhau. Ở chiều ngược lại, một số lĩnh vực pháp luật cần có sự khái quát cao, cần có sự linh hoạt phù hợp với sự phát triển năng động của các quan hệ kinh tế - xã hội thì chúng ta lại ban hành các đạo luật quá chi tiết, làm cho một số luật vừa ban hành đã phải liên tục sửa đổi, bô’ sung. Nguyên tắc "cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép; công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm" chưa được tuân thủ đầy đủ trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.

4. Tính công khai, minh bạch

Những sai phạm về hình thức văn bản vẫn xảy ra. Một số văn bản hành chính lưu hành trong nội bộ các cơ quan nhà nước nhưng lại chứa quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành chung với nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, làm giảm tính minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật. Chưa có sự phân định rõ phạm vi, ranh giới giữa việc giải thích luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của ủy ban thường vụ Quốc hội, việc ban hành văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các cơ quan có. thẩm quyền khác với việc Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử. Trong nhiều trường hợp, pháp luật được hiểu, được áp dụng chưa thống nhất, trong khi ủy ban thường vụ Quốc hội hầu như không thực hiện việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập chưa được coi trọng đúng mức; công tác nội luật hóa điều ước quốc tế chậm được tiến hành...

5. Nguyên nhân dẫn đến những bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, do các quan hệ xã hội - đối tượng điều chỉnh của pháp luật đang phát triển, thay đổi liên tục mà nếu không nắm được bản chất của chúng thì rất dễ cho ra đời các quy phạm pháp luật không phù hợp.

Thứ hai, nhiều vấn đề lý luận về pháp luật, về hệ thống pháp luật nói chung và về các bộ phận, yếu tố hợp thành hệ thống pháp luật nói riêng chưa được nghiên cứu một cách bài bản; thiếu đánh giá, tổng kết thực tiễn đầy đủ. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong một thời gian dài chưa đặt trên cơ sở khoa học vững chắc, còn mang nặng giải pháp tình thể.

Thứ ba, vẫn còn thiếu những giải pháp đồng bộ để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt trong điều kiện hiện nay đòi hỏi phải có một hệ thống các giải pháp bảo đảm, bao gồm các giải pháp tổ chức, cán bộ, nguồn lực trí tuệ, tài chính... Cơ chế xây dựng pháp luật tuy đã được đổi mới, nhưng chưa phúc đáp đầy đủ nhu cầu xây dựng pháp luật hiện nay; đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham gia xây dựng pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng; chưa huy động được một cách có hiệu quả mọi nguồn lực cần thiết, đặc biệt nguồn lực trí tuệ cho việc xây dựng pháp luật.

Thứ tư, do chưa làm tốt việc tập hợp, hệ thống hóa các quy phạm pháp luật, nên văn bản mới ban hành dễ chồng chéo, thậm chí, có trường hợp mâu thuẫn với các văn bản đang có hiệu lực. Trong khi đó, hầu hết văn bản hiện hành không có chỉ dẫn rõ ràng về các điều khoản đã hết hiệu lực; muốn tìm điều khoản nào đó, người sử dụng phải lần tìm toàn bộ các văn bản liên quan. Dường như chúng ta chú trọng việc xây dựng và ban hành nhiều văn bản để đáp ứng yêu cầu quản lý mà chưa quan tâm thỏa đáng đến việc đưa các văn bản đó vào một thể thống nhất. Hệ quả là pháp luật có số lượng quá nhiều nhưng tính thống nhất, đồng bộ, khoa học và khả thi chưa cao. Chương trình rà soát, hệ thống hóa được thực hiện nhiều năm nhưng kết quả khá khiêm tốn. Việc hệ thống hóa chỉ được thực hiện ở mức độ tương đối và chủ yếu dựa vào nỗ lực đơn lẻ của các bộ, ngành, chưa phải là hoạt động mang tính toàn diện, thường xuyên, áp dụng đối với toàn bộ hệ thống pháp luật.

Thứ năm, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là một sự nghiệp lâu dài, phức tạp, khó khăn, không thể là công việc của một vài năm mà là công việc của nhiều thập kỷ, đòi hỏi phải có một sự tìm tòi, khám phá, đúc kết kinh nghiệm. Hơn nữa, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và pháp điển hóa hiện nay ở nước ta lại được tiến hành trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung, bao cap sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên có những khó khăn khách quan nhất định.