1. Cho ví dụ về việc áp dụng pháp luật

Ví dụ: pháp luật nước ta có quy định một số nguyên tắc cơ bản đối với việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước hoặc điều ước quốc tế, tập quán quốc tế như: văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực; trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lí cao hơn; trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

Nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là: áp dụng pháp luật dân sự Việt Nam, trừ trường hợp Bộ luật dân sự có quy định khác; áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Bộ luật dân sự, áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng và không trái với quy định của Bộ luật dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật khác của nước ta. Tập quán quốc tế chỉ được áp dụng với điều kiện việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta (Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2015).

2. Phân tích việc áp dụng pháp luật nước ngoài

2.1 Sự cần thiết của việc áp dụng pháp luật nước ngoài

Xuất phát từ các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nên khi giải quyết các quan hệ này nếu không có các quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh quan hệ thì các cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải dùng các quy phạm xung đột, một trong các phương pháp được áp dụng phổ biến trong tư pháp quốc tế. Thừa nhận quy phạm xung đột cũng là thừa nhận có thể áp dụng pháp luật nước ngoài theo sự dẫn chiếu của quy phạm này. Thực tiễn chứng minh việc áp dụng nước ngoài chỉ được áp dụng trên cơ sở của sự quy định của các quy phạm xung đột do luật quốc gia hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia dẫn chiếu. Tuy nhiên, áp dụng pháp luật nước ngoài luôn phải đảm bảo độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm trật tự pháp luật quốc gia.

2.2 Các trường họp áp dụng pháp luật nước ngoài

Việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một điều tất yếu trong khi giải quyết các vụ việc của tư pháp quốc tế, song việc áp dụng pháp luật nước ngoài cũng chỉ được thực hiện trong các trường hợp nhất định, và trong các trường hợp đó thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của đương sự, chứ không phải là “nên” áp dụng hay biết thì áp dụng không biết thì không áp dụng. Các trường hợp phải áp dụng pháp luật nước ngoài là:

+ Khi quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến luật nước ngoài:

Như trên đã trình bày, quy phạm xung đột là quy phạm dẫn chiếu luật hoặc quy phạm chọn luật áp dụng, chính vì vậy khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến thì luật nước ngoài phải được ảp dụng. Có như vậy thì hiệu lực của quy phạm mới được tôn trọng và pháp luật mới được thực thi theo đúng quy định, bởi quy phạm xung đột thông thường là các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành ra.

>> Xem thêm:  Hình thức pháp luật là gì ? Khái niệm về hình thức pháp luật

Luật nước ngoài khi được quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến cần được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài bao gồm cả các quy phạm thực chất lẫn các quy phạm xung đột. Nên khi quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến luật nước ngoài sẽ có thể dẫn đến hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba như sẽ được đề cập ở mục 4 dưới đây.

+ Khi quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu đến luật nước ngoài:

Giống như quy phạm xung đột thông thường, quy phạm xung đột phạm xung đột này có sự khác biệt thì ưu tiên áp dụng quy phạm trong điều ước quốc tế (Khoản 2 Điều 665 Bộ luật dân sự năm 2015: "Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vỉệt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Phần này và luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng”).

+ Khi cơ quan có thẩm quyền xác định luật nước ngoài là hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất

Thông thường, việc xác định luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế sẽ do các quy phạm xung đột quy định, hoặc do các đương sự thoả thuận lựa chọn khi được phép. Tuy nhiên, nếu các trường họp ưên đã được xem xét mà vẫn không xác định được luật áp dụng thì một giải pháp nữa đã được quy định để khắc phục tình trạng này, đó là luật áp dụng sẽ là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất theo xác định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Nếu pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ là pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài đó sẽ được áp dụng. Đây là một quy định mới đảm bảo sẽ luôn xác định được pháp luật áp dụng để giải quyết vụ việc.

2.3 Các yêu cầu khi áp dụng pháp luật nước ngoài

Luật nước ngoài khi được áp dụng cần phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định. Bởi luật nước ngoài được xây dựng trên cở sở lý luận và thực tiễn của xã hội nước ngoài, vì vậy luật nước ngoài sẽ phản ánh ý chí cũng như các điều kiện vật chất của xã hội nước ngoài đó. Khi áp dụng pháp luật nước ngoài mà nước áp dụng không đặt luật nước ngoài hong bối cảnh chung, trong hệ thống thống nhất của nước ngoài thì sẽ làm sai lệch pháp luật nước ngoài. Như vậy, để đảm bảo luật nước ngoài thực sự là “luật nước ngoài” chứ không phải luật được giải thích theo ý chí chủ quan của người áp dụng, yêu cầu luật nước ngoài phải được áp dụng một cách đầy đủ, đảm bảo luật nước ngoài được áp dụng và giải thích như nó được áp dụng và giải thích ở nước đã ban hành ra nó.

1) Trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, toà án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc thông qua Bộ Ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài;

2) Trường hợp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định phải áp dụng pháp luật nước ngoài thì đương sự có quyền cung cấp pháp luật nước ngoài cho toà án hoặc toà án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài;

3) Toà án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước ngoài;

4) Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày toà án yêu cầu cung cấp pháp luật nước ngoài theo quy định trên mà không có kết quả thì toà án áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự đó.

Như vậy, ừong trường hợp luật nước ngoài do các bên lựa chọn thì việc xác định pháp luật nước ngoài trước hết thuộc về trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ đó. Bởi việc áp dụng pháp luật nước ngoài cuối cùng cũng là để đảm bảo lợi ích của các đương sự và vì các đương sự, nên họ không thể đứng ngoài công việc này. Hơn nữa đây lại là trường hợp luật do chính các bên lựa chọn nên họ trước khi chọn ít nhiều cũng đã tìm hiểu và biết về nội dung pháp luật nước ngoài, vì vậy cũng không quá khó khăn cho các bên khi cung cấp về nội dung luật nước ngoài. Thêm vào đó, để đảm bảo tính chính thống thì phần cung cấp nội dung luật nước ngoài của các đương sự sẽ được toà án chấp nhận nếu đã có sự thẩm định của Bộ Tư pháp.

Trong trường họp việc áp dụng pháp luật nước ngoài là do sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột trong nước hoặc quy phạm xung đột thống nhất trong các điều ước quốc tế dẫn chiếu đến (không phải do

>> Xem thêm:  Văn bản áp dụng pháp luật là gì ? Cho ví dụ về văn bản áp dụng pháp luật

Nếu quy phạm xung đột thống nhất quy định cho phép các bên tham gia quan hệ được phép lựa chọn pháp luật áp dụng (quy định hệ thuộc luật lựa chọn - Lex voluntatis) và các bên đã lựa chọn được pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn. Ở đây các bên có thể chọn không chỉ pháp luật của một quốc gia nhất định mà còn có thể lựa chọn tập quán để áp dụng cho quan hệ của mình.[1] [2] Nếu quy phạm xung đột thống nhất không quy định hệ thuộc luật lựa chọn hoặc có quy định nhưng các bên không lựa chọn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật mà quy phạm xung đột thống nhất đã ấn định.

- Áp dụng pháp luật theo quy định của pháp luật quốc gia: Nếu không có điều ước quốc tế thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật trong nước của quốc gia mình để giải quyết vụ việc. Cụ thể, các quy phạm thực chất thông thường sẽ được rà soát, lưu ý ở đây là các quy phạm thực chất của tư pháp quốc tế tức là các quy phạm quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ có yếu tố nước ngoài và do nhà nước ban hành, quy phạm này khác so với quy phạm của các ngành luật trong nước, điều này đã có sự phân biệt.

Khi pháp luật quốc gia không có các quy phạm thực chất thông thường như trên thì lúc này các cơ quạn có thẩm quyền sẽ căn cứ vào các quy phạm xung đột thông thường. Các quy phạm này hiện nay nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau nhưng một trong

Có thể tóm tắt lại thứ tự áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc tư pháp quốc tế như sau:

Bước 1: áp dụng quy phạm thực chất thống nhất.

Bước 2: áp dụng quy phạm xung đột thống nhất (nếu được chọn luật thì áp dụng luật lựa chọn trước. Nếu không sẽ áp dụng pháp luật nước được xác định bởi quy phạm).

Bước 3: áp dụng quy phạm thực chất thông thường.

Bước 4: áp dụng quy phạm xung đột thông thường (nếu được chọn luật thì áp dụng luật lựa chọn trước. Nếu không sẽ áp dụng pháp luật nước được xác định bởi quy phạm).

Bước 5: áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất (có thể cả tập quán hoặc tương tự pháp luật, án lệ hoặc lẽ công bằng).

Cần lưu ý các bước sau chỉ được áp dụng khi các bước trước không thể thực hiện được.

>> Xem thêm:  Pháp luật là gì ? Đặc điểm, đặc trưng cơ bản của pháp luật ?

+ Đối với các quan hệ tư pháp quốc tế đặc biệt

Một số quan hệ pháp luật mặc dù là quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài nhưng khi phát sinh không phát sinh xung đột pháp luật, do có những đặc thù trong đối tượng điều chỉnh (ví dụ, các quan hệ sở hữu trí tuệ). Đối vói các quan hệ này khi nảy sinh, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên để điều chỉnh, thông thường các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này chủ yếu bao gồm các quy phạm thực chất thống nhất, và do đó các quy phạm này sẽ được áp dụng trực tiếp để điều chỉnh quan hệ đang xem xét một thực tế hiển nhiên, rõ ràng mà không cần một sự giải thích cặn kẽ, chi tiết nào.

Vậy thế nào là trật tự công, có định nghĩa về trật tự công hay không? Thực tế hầu như không có bất kì một định nghĩa chính thống nào về trật tự công, kể cả ở văn bản pháp luật của quốc gia hay quốc tế cũng như các tài liệu nghiên cứu liên quan, không chỉ ở Việt Nam mà cả các quốc gia khác trên thế giới. Sở dĩ như vậy bởi trong tư pháp quốc tế khi trật tự công được vận dụng tức là biện pháp cuối cùng đã được dùng tới để đảm bảo trật tự pháp luật quốc gia, để hệ thống pháp luật quốc gia không bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các yếu tố bất lợi từ việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Điều đó được cho là chánh đáng và cần phải được tôn trọng. Nên nếu có một khái niệm về trật tự công thì khái niệm đó khó có thể bao quát đầy đủ mọi trường hợp có thể xảy ra trên thực tế, vì vậy nguy cơ ảnh hưởng đến trật tự pháp lý là hoàn toàn có thể. Một lý do nữa cho sự thiếu vắng một khái niệm chính thống về trật tự công, đó có thể do mục đích cần có một sự linh hoạt nhất định để bảo vệ tốt nhất trật tự pháp luật quốc gia mà nếu chỉ dựa vào một quy định cứng thì sẽ khó vận dụng-

Tại Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan hay đồng nhất trật tự công với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Ví dụ, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học cho rằng “trật tự công” là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật mỗi quốc gia. Cách giải thích này có ưu điểm là đã làm cho một vấn đề mơ hồ như trật tự công bớt mơ hồ hơn, nhưng ngay cả việc coi trật tự công là nguyên tắc cơ bản, với mục đích để lượng hoá cũng như thực tế hơn thì việc có bao nhiêu nguyên tắc được cho là cơ bản cũng vẫn là một vấn đề không dễ xác định. Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào quy định về các vấn đề này, cụ thể thế nào là trật tự công, có bao nhiêu nguyên tắc được cho là cơ bản và đó là những nguyên tắc nào, chính vì sự không rõ ràng đó mà đôi khi bảo lưu trật tự công được ví như một giải pháp nhỏ... nhưng về tổng thể thì hai hệ thống pháp luật của hai nước là khác nhau. Vậy, khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài thì có một câu hỏi đặt ra là có phải mọi trường hợp luật nước ngoài sẽ được áp dụng hay sẽ áp dụng vô điều kiện luật nước ngoài? Việc tìm câu trả lời không quá khó khăn bởi mỗi quốc gia đều có chủ quyền của mình, vì vậy việc áp dụng pháp luật nước ngoài không thể là vô điều kiện được, mà sẽ có trường hợp mặc dù các bên lựa chọn, quy phạm xung đột dẫn chiếu tới nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn không áp dụng pháp luật nước ngoài và trong trường họp này lý do được đưa ra là để bảo vệ trật tự công. Bởi nếu luật nước ngoài được áp dụng có thể sẽ làm tổn hại, xâm phạm đến trật tự công. Từ đó có thể thấy vấn đề trật tự công và bảo lưu trật tự công trong tư pháp quốc tế thực tế chỉ liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài.

Nội dung của vấn đề bảo lưu trật tự công trong tư pháp quốc tế là không áp dụng pháp luật nước ngoài nếu hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Điều này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam.

Ví dụ: Điều 666; điểm a khoản 1 Điều 670 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 5 Luật thưong mại 2005; khoản 3 Điều 5 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015.

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật nước ngoài không được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng đó trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và chỉ vì duy nhất lý do đó mà thôi, vì thế các cơ quan có thẩm quyền không thể từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài vì các lý do không phải lý do đã nêu ở trên. Trong trường họp áp dụng pháp luật nước ngoài mà đưa đến một kết quả không như mong muốn hay tuy không trái với nguyên tắc cơ bản nhưng cũng không được cho là phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia thi đó được coi là chưa đủ căn cứ để từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài.

nước ngoài thì sẽ loại trừ hiện tượng dẫn chiếu ngược. Nếu dẫn chiểu đến toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài trong đó bao gồm cả phần luật xung đột thì sẽ xảy ra hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba.

Dẫn chiếu ngược là hiện tượng pháp luật nước được dẫn chiếu, dẫn chiếu trở lại pháp luật nước dẫn chiếu.

Ví dụ, hai vợ chồng đều là công dân Việt Nam, đi làm việc và cư trú tại nước X. Sau thời gian mâu thuẫn kéo dài, đến tháng 6/2015 họ quyết định li hôn và đơn xin li hôn được gửi tới toà án Việt Nam, nơi cư trú trước đây của họ. Giả sử toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết và đã thụ lý vụ việc này. Giữa Việt Nam và nước X không có Hiệp định tương trợ tư pháp nên toà án Việt Nam sẽ căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam để giải quyết, cụ thể toà án Việt Nam căn cứ vào khoản 2 Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 để xác định luật áp dụng. Theo khoản 2 Điều 127: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu li hôn thì việc li hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam”, và vụ việc này toà án Việt Nam xác định hai vợ chồng đương sự có nơi thường trú chung tại nước X nên sẽ áp dụng luật nước X để giải quyết việc li hôn. Song, căn cứ vào luật nước X thì việc li hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước mà hai vợ chồng mang quốc tịch, tức là luật Việt Nam.

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật tương tự là gì ? Khái niệm về áp dụng pháp luật tương tự ?

Như vậy, trong trường hợp này toà án Việt Nam theo sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột (khoản 2 Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014) sẽ áp dụng pháp luật nước X, là luật nơi thường trú chung của vợ chồng. Nhưng trong pháp luật nước X cũng có các quy phạm thực định cũng như các quy phạm xung đột. Còn đối với các quốc gia không chấp nhận dẫn chiếu thì khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật nước ngoài chỉ bao gồm các quy định của luật thực định mà thôi.

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về vấn đề này tại khoản 1 Điều 668 Bộ luật dân sự 2015: “Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp nêu tại khoản 4 Điều này”. Như vậy, Việt Nam theo quan điểm chấp nhận dẫn chiếu, bởi pháp luật được dẫn chiếu đến gồm cả quy định về xác định pháp luật áp dụng hay còn gọi là quy định về xung đột luật, đây chính là cơ sở để có thể xảy ra hiện tượng dẫn chiếu ngược. Việc chấp nhận dẫn chiếu không hề có hại và không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, khi pháp luật nước ngoài tự nguyện từ bỏ chi phối quan hệ cụ thể, vì thế điều đó không ảnh hưởng đến việc tôn trọng sự bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật.

Khi có hiện tượng dẫn chiếu ngược, để tránh tình trạng kéo dài sự việc và tạo điều kiện giải quyết vụ việc được nhanh chóng và hiệu quả, pháp luật Việt Nam quy định sẽ áp dụng các quy định thực định của luật Việt Nam. Cụ thể, khoản 2 Điều 668 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật Việt Nam thì quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng”.

Trong trường hợp chấp nhận dẫn chiếu ngược thì hiệu lực của quy phạm xung đột bị ảnh hưởng, vì quy phạm chỉ dẫn tới áp dụng pháp luật nước ngoài nhưng nay luật nước ngoài không được áp dụng mà áp dụng luật nước có toà án thì hiệu lực của quy phạm bị ảnh hưởng ở đó.

Cũng căn cứ vào quy định tại Điều 668 Bộ luật dân sự 2015 có làm mất đi những điều kiện tồn tại dẫn chiếu ngược. Xu hướng của tư pháp quốc tế hiện đại ngày nay đều cho rằng không xảy ra hiện tượng dẫn chiếu ngược, dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba đối với điều ước quốc tế. Vì không có dẫn chiếu ngược nên việc chấp nhận hay không chấp nhận dẫn chiếu ngược không cần phải đặt ra. về vấn đề này pháp luật Việt Nam hiện không có quy định cụ thể, tức là pháp luật Việt Nam không quy định rằng đối với quy phạm xung đột thống nhất trong điều ước quốc tế, khi dẫn chiếu là dẫn chiếu đến cả hệ thống pháp luật của nước được dẫn chiếu bao gồm cả phần luật xung đột và phần luật thực định, hay chỉ bao gồm phần luật thực định mà thôi. Tuy nhiên, xét ở cả khía cạnh thực tế thì rất khó xảy ra hiện tượng dẫn chiếu ngược trong điều kiện này vì quy phạm xung đột thống nhất là quy phạm nằm trong điều ước quốc tế, vậy nếu có dẫn chiếu ngược thì sẽ dẫn đến pháp luật nước nào trong số các quốc gia đã xây dựng hoặc tham gia điều ước quốc tế đó.

Cũng về ngoại lệ của dẫn chiếu ngược còn một trường hợp khác đó là khi các bên lựa chọn áp dụng luật của một nước thì chỉ là luật thực định của nước đó được đem vào áp dụng để điều chỉnh quan hệ giữa các bên mà không có sự dẫn chiếu ngược. Vì luật do các bên thoả thuận cũng chính là hệ thống luật họ mong muốn được áp dụng nếu không áp dụng luật đó mà dẫn chiếu ngược lại hoặc dẫn chiếu tiếp đến một nước khác thì cả hai trường họp đó ý chí của các bên đã bị vi phạm và làm mất đi “tính thoả thuận” của sự lựa chọn. Đối với trường họp này pháp luật Việt Nam có quy định tại khoản 4 Điều 668 Bộ luật dân sự 2015: “Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này thì pháp luật mà các bên lựa chọn là quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, không bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng”. Theo đó, khi các bên được pháp luật cho phép chọn luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa họ, thì pháp luật áp dụng trong trường hợp này chính giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này”. Họ cho rằng nếu áp dựng luật của Việt Nam sẽ không tốt cho A. Trong khi đó luật nuớc A mang quốc tịch lại cũng có quy phạm xung đột quy định rằng giải quyết li hôn có yếu tố nước ngoài sẽ tuân theo luật nước nơi cư trú chung của vợ chồng. Cuối cùng A cùng vợ là B đã thay đổi nơi cư trú, trở về nước mà A mang quốc tịch để cư trú và làm thủ tục xin li hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước này. Khi giải quyết cơ quan này sẽ áp dụng luật của nước A, nước mà vào thời điểm li hôn vợ chồng họ đang cư trú, và có lợi cho A.

Như vậy trong ví dụ này A đã thay đổi nơi cư trú, không xin li hôn tại Việt Nam nữa, nên không bị toà án Việt Nam áp dụng quy phạm xung đột tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, mà việc li hôn của A lúc này do cơ quan có thẩm quyền nước A mang quốc tịch giải quyết và quy phạm xung đột cũng do cơ quan đó xác định và áp dụng, hay trường họp này A đã “bỏ qua” quy phạm xung đột (Điều 127) đáng ra được áp dụng.

Trường hợp thứ hai, đương sự không “bỏ qua” quy phạm xung đột như trường hợp trên mà vẫn đưa vụ việc ra trước cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại, để rồi cơ quan này sẽ áp dụng các quy phạm xung đột của mình để điều chỉnh quan hệ, tuy nhiên đương sự bằng hành vi của mình đã làm thay đổi phạm vi hoặc uốn sự điều chỉnh của quy phạm xung đột theo xu hướng có lợi cho đương sự.

Ví dụ, A là công dân nước ngoài, đã sống và làm việc tại Việt Nam một thời gian dài. A có tài sản ở Việt Nam cả động sản và bất động sản. Mà theo pháp luật Việt Nam, mặc dù thừa kế đối với động sản hay bất động sản đều sẽ áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người để lại thừa kế, tuy nhiên việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản sẽ do luật nơi có bất động sản quy định (Điều 680 Bộ luật dân sự 2015). Nhưng A muốn toàn bộ tài sản của mình phải được định đoạt theo pháp luật nước A là công dân, vì cho rằng đấy là nên xem đây là trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy phạm xung đột hoặc cái “đáng nhẽ” chỉ là sự giả định còn cái mà quy phạm điều chỉnh mới là thực tế. Từ đó để thấy rằng chỉ vì quy phạm xung đột bị “bỏ qua” hoặc bị “dẫn dắt” mà cho rằng các hành vi như đã đề cập ở trên của đương sự là “lẩn tránh pháp luật”, là bất hợp pháp và không công nhận nó thì quả là chưa có cơ sở chắc chắn. Hiện tại ở Việt Nam, tư pháp quốc tế chưa ghi nhận một trường hợp nào bị xem là lẩn tránh pháp luật.

Điều 666 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

>> Xem thêm:  Áp dụng tương tự pháp luật là gì ? Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là gì ?

“Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.”

Điều 6 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Trường họp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bền không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quản được áp dụng thì áp dụng quỵ định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

2. Trường hợp không thể ảp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.”

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Phân tích bản chất và đặc điểm của pháp luật Việt Nam hiện nay ?