1.Ðặt họ 

Cơ sở của việc đặt họ: quan hệ cha mẹ-con. Theo quy ước truyền thống ở tất cả các nềnm văn hoá pháp lý, họ, trên nguyên tắc, là dấu hiệu của gia đình. Bởi vậy, việc đặt họ cho một người dựa vào việc trả lời câu hỏi: người này là con của ai ? Do cơ sở của việc đặt họ là quan hệ cha mẹ-con mà lai lịch của cha và mẹ là một phần nội dung giấy khai sinh của cá nhân. Tục lệ: nguyên tắc lấy họ cha. Cá nhân, khi sinh ra, được mang họ cha. Quy tắc này được thiết lập ở Việt Nam không phải trong luật viết mà trong tục lệ. Không thể xác định thời điểm chính xác thời điểm mà việc con mang họ cha trở thành quy tắc. Tuy nhiên, có thể coi đây là một trong những hệ quả cơ bản của sự thống trị của mô hình gia đình tộc họ-phụ hệ trong xã hội Việt Nam cổ xưa11: gia đình tộc họ-phụ hệ có cha chung và việc mỗi thành viên gia đình mang họ cha là biểu hiện của nguồn gốc chung của các thành viên đó. Tục lệ lấy họ cha được thừa nhận ở tất cả các xã hội áp dụng chế độ gia đình phụ hệ. Trong một số cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam có thể tồn tại tục lệ cho con lấy họ mẹ, tương ứng với sự thống trị của chế độ mẫu hệ. Dẫu sao, tục lệ lấy họ mẹ không phổ biến; điều đó có nghĩa rằng tục lệ lấy họ cha mang tính nguyên tắc. 

2. Nguyên tắc đặt họ cha 

1 - Tất cả các con cùng cha đều có cùng một họ;

2- Họ được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi những người có giới tính nam. Con gái cũng mang họ cha, nhưng không thể chuyển giao họ đó cho con trai của mình, nếu không có thỏa thuận khác giữa cha và mẹ của đứa con trai đó. Luật. Trong BLDS năm 1995, nguyên tắc lấy họ cha không được xếp vào nhóm các quy phạm của luật mệnh lệnh. Họ của trẻ sơ sinh là họ của người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha và mẹ (Ðiều 55 khoản 1) . Trong trường hợp không xác định được người cha, thì họ của trẻ sơ sinh là họ của người mẹ (cùng điều luật). Quy tắc sau này cho phép nghĩ rằng trong trường hợp xác định được người cha, thì trẻ sơ sinh sẽ ưu tiên mang họ cha. Ta nói rằng luật có xu hướng tôn trọng sự thống trị của tục lệ trong việc đặt họ của cá nhân. BLDS năm 2005 loại bỏ các quy định về hộ tịch, do đó, không giải quyết vấn đề đặt tên . Điều đáng tiếc là khi xây dựng và ban hành hệ thống quy định mới về hộ tịch vào cuối năm 2005 (nghĩa là sau khi BLDS mới được thông qua), Chính phủ cũng không đề cập đến đến chuyện đặt họ cho một người, đặc biệt là khi tiến hành thủ tục khai sinh. Hậu quả là, trong khung cảnh của luật viết, vấn đề đặt họ bị bỏ ngỏ. Dẫu sao, hầu như không thể hình dung trường hợp con có cha, mẹ lại được khai sinh theo họ của một người thứ ba . Mặt khác, tục lệ hiện đại vẫn đủ mạnh để áp đặt việc lấy họ cha cho hầu như tất cả các trường hợp con sinh ra trong giá thú. Thậm chí, trong các trường hợp cha và mẹ chỉ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, một khi các dấu hiệu của gia đình có đủ, thì con sinh ra cũng được khai sinh theo họ cha. Ðặt họ cho trẻ bị bỏ rơi. Không có quy định về cách đặt họ trong các trường hợp bình thường, luật hiện hành lại chú ý đến việc đặt họ trong trường hợp rất đặc biệt khi mà người cần được đặt họ là trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 Điều 16 khoản 3, thì họ của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi được ghi nhận trên giấy khai sinh theo đề nghị của người đi khai sinh . Luật không có quy định gì đặc biệt về cách đề nghị của người đi khai sinh. Điều đó có nghĩa rằng việc đề nghị này chịu sự chi phối của tục lệ phổ biến tại vùng nơi việc khai sinh được thực hiện: trẻ có thể mang họ của người đi khai sinh hoặc họ của đa số cư dân trong vùng hoặc thậm chí bất kỳ một họ nào đó do người khai sinh nghĩ ra, với điều kiện không gây phương hại đến lợi ích, danh dự, nhân phẩm của người khác. Tất nhiên, họ trong trường hợp này không phải là dấu hiệu của gia đình nơi xuất xứ của đương sự mà chỉ là thành phần bắt buộc phải có trong cơ cấu họ và tên của cá nhân theo quy định của pháp luật. Đúng là nguyên tắc lấy họ cha không phải là quy phạm mệnh lệnh theo BLDS năm 1995; nhưng Điều 55 khoản 1 có vẻ muốn thiết lập một quy phạm mệnh lệnh khác, theo đó, con có cha và mẹ chỉ có thể mang họ cha hoặc họ mẹ chứ không thể mang họ của một người thứ ba

3. Ðặt tên

 Tên ở Việt Nam đi sau họ và được sử dụng để xưng hô, cả trong quan hệ xã giao hoặc gia đình, bè bạn, và cả theo nghĩa nghiêm túc, trang trọng lẫn theo nghĩa thân mật . Cấu tạo của tên. Tên của một người Việt Nam thường có hai bộ phận: tên và chữ đệm. Tên là bộ phận bắt buộc, cần có để làm cho họ và tên trở nên hoàn chỉnh; còn chữ đệm là bộ phận không bắt buộc. Thông thường, tên được cấu tạo bằng một từ; chữ đệm cũng vậy. Song, cũng có trường hợp tên có cấu tạo với hai thậm chí nhiều hơn hai từ, ví dụ, Thiên Thanh, Xuân Hương, Tài Em,...

4.Chọn tên

Nguyên tắc tự do đặt tên. Khác với họ (được đặt theo họ cha, họ mẹ hoặc theo quyết định của cơ quan hộ tịch, trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi và không có người nhận nuôi), tên của cá nhân do người khai sinh cho cá nhân lựa chọn theo ý mình. Tục lệ có can thiệp vào việc đặt tên, còn luật viết chưa có quy định cụ thể ở điểm này. Thông thường, cá nhân được đặt tên lựa chọn giữa các tên thông dụng (Hùng, Dũng, Minh, Hồng, Tuyết,...). Một số tên chỉ phù hợp với một giới tính nhất định. Ví dụ, tên "Dũng", "Hùng" dành cho nam; "Đoan Trang", "Mỹ Dung" dành cho nữ. Những tên lạ cũng có thể được chấp nhận. Có những tên rất buồn cười cũng được ghi nhận . Nhưng, dù luật không chính thức cấm, không thể đặt tên cho cá nhân bằng những từ dùng để chưởi rủa hoặc bằng những từ thuộc nhóm ngôn ngữ hạ cấp: khi nhận được những yêu cầu đặt tên như thế, viên chức hộ tịch có nhiều cách để từ chối đáp ứng thuận lợi. Ngôn ngữ của tên. Tên được chấp nhận, trong khung cảnh của thực tiễn và tập quán hộ tịch, phải là tên bằng tiếng Việt, đối với người được khai sinh mang quốc tịch Việt Nam. Riêng người thuộc dân tộc thiểu số có thể mang tên phù hợp với ngôn ngữ của dân tộc mình; nhưng khi khai sinh, tên đó phải được phiên âm và viết bằng các chữ cái latinh. Dẫu sao, không thể coi là trái pháp luật hoặc trái đạo đức một nguyện vọng đặt tên bằng tiếng nước ngoài, nhất là trong điều kiện người được khai sinh có mang dòng máu của dân tộc sử dụng ngôn ngữ có tên đó. Mặt khác, các tên có nguồn gốc nước ngoài nhưng đã được phiên âm hoàn chỉnh ra tiếng Việt cũng được coi là các tên Việt. Ví dụ, Giác (Jacques), Linh Côn (Lincohn),… Người có quyền đặt tên. Luật hiện hành chỉ xác định người có quyền đặt tên trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi (Nghị định số 158 ngày 27/12/2005 Điều 16 khoản 3). Tuy nhiên, quyền của cha mẹ đặt tên cho con được thừa nhận rộng rãi trong tục lệ và được người thực hành luật tôn trọng. Trên thực tế, quyền của cha mẹ đặt tên cho con được thực hiện thông qua vai trò của người khai sinh; tuy nhiên, nếu người đi khai sinh không phải là cha mẹ, thì việc đặt tên nói chung được đặt dưới sự kiểm soát của cha mẹ; người đi khai sinh thường chỉ khai tên của người được khai sinh theo yêu cầu của cha hoặc/và mẹ của người được khai sinh. chính thức cấm, không thể đặt tên cho cá nhân bằng những từ dùng để chưởi rủa hoặc bằng những từ thuộc nhóm ngôn ngữ hạ cấp: khi nhận được những yêu cầu đặt tên như thế, viên chức hộ tịch có nhiều cách để từ chối đáp ứng thuận lợi. Ngôn ngữ của tên. Tên được chấp nhận, trong khung cảnh của thực tiễn và tập quán hộ tịch, phải là tên bằng tiếng Việt, đối với người được khai sinh mang quốc tịch Việt Nam. Riêng người thuộc dân tộc thiểu số có thể mang tên phù hợp với ngôn ngữ của dân tộc mình; nhưng khi khai sinh, tên đó phải được phiên âm và viết bằng các chữ cái latinh. Dẫu sao, không thể coi là trái pháp luật hoặc trái đạo đức một nguyện vọng đặt tên bằng tiếng nước ngoài, nhất là trong điều kiện người được khai sinh có mang dòng máu của dân tộc sử dụng ngôn ngữ có tên đó. Mặt khác, các tên có nguồn gốc nước ngoài nhưng đã được phiên âm hoàn chỉnh ra tiếng Việt cũng được coi là các tên Việt. Ví dụ, Giác (Jacques), Linh Côn (Lincohn),… Người có quyền đặt tên. Luật hiện hành chỉ xác định người có quyền đặt tên trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi (Nghị định số 158 ngày 27/12/2005 Điều 16 khoản 3). Tuy nhiên, quyền của cha mẹ đặt tên cho con được thừa nhận rộng rãi trong tục lệ và được người thực hành luật tôn trọng. Trên thực tế, quyền của cha mẹ đặt tên cho con được thực hiện thông qua vai trò của người khai sinh; tuy nhiên, nếu người đi khai sinh không phải là cha mẹ, thì việc đặt tên nói chung được đặt dưới sự kiểm soát của cha mẹ; người đi khai sinh thường chỉ khai tên của người được khai sinh theo yêu cầu của cha hoặc/và mẹ của người được khai sinh. 

5.Chọn chữ đệm

Tục lệ về chữ đệm. Khác với việc đặt tên, việc đặt chữ đệm ở Việt Nam chịu sự chi phối khá rõ nét của tục lệ và các tục lệ này được người làm luật thừa nhận mặc nhiên. Chữ đệm không đa dạng như tên. Có thể dẫn ra: văn, thị, xuân, ngọc, đình,… Cũng như tên, có chữ đệm chỉ được đặt cho người có giới tính phù hợp. Ví dụ, chữ "thị" được dùng để đặt cho nữ; chữ "văn" dùng để đặt cho nam. Có chữ đệm trung tính: xuân, ngọc, duy, thuỵ,… Song, nói chữ đệm không đa dạng không có nghĩa rằng luật chỉ cho phép sử dụng các chữ đệm ghi nhận trên một danh sách do luật hoặc tục lệ thiết lập. Về mặt lý thuyết, chữ đệm có thể được đặt một cách tự do như tên; nhưng, con người tự nguyện giới hạn quyền tự do của mình bằng cách lựa chọn trong số các chữ đệm thông dụng, để tránh điều tiếng không hay có thể ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của người được đặt tên. Trên thực tế, cũng có người sử dụng quyền tự do đặt chữ đệm một cách đầy cảm hứng. Có khá nhiều trường hợp người ta dùng tên làm chữ đệm, ví dụ, Nguyễn Dũng Nhân. Có trường hợp chữ đệm được lấy từ họ của mẹ trong điều kiện con mang họ cha, ví dụ, Trần Nguyễn, Lê Trần,… Có thể coi đó là những phá cách được chấp nhận đối với tục lệ về chữ đệm. Tuy nhiên, sự phá cách có giới hạn của nó: không thể hình dung trường hợp nam mang chữ đệm "Thị"; nữ mang chữ đệm "Văn" . Không loại trừ khả năng viên chức hộ tịch nhận được những yêu cầu kỳ dị của người khai sinh, liên quan đến việc đặt chữ đệm cho người được khai sinh; nhưng, cũng như đối với yêu cầu đặt tên, viên chức hộ tịch có cách để không phải đáp ứng các yêu cầu mà tính kỳ quái vượt quá giới hạn. Ngôn ngữ của chữ đệm. Chữ đệm, trên nguyên tắc, cũng phải có nguồn gốc tiếng Việt hoặc tiếng của dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam. Một cách ngoại lệ, có những chữ đệm có nguồn gốc tiếng nước ngoài được Việt hoá cũng được thừa nhận. Chữ đệm cũng có thể không thanh lịch, nhưng phải ở mức độ thô thiển chấp nhận được. Người đặt chữ đệm. Người đặt chữ đệm tất nhiên cũng là người đặt họ và tên cho người được khai sinh. Chữ đệm của gia đình. Có những gia đình sử dụng thống nhất chữ đệm cho tất cả các thành viên của mình, ví dụ, Nguyễn Long, Phạm Gia, Trần Trọng. Khi đó, chữ đệm gắn với họ và trở thành dấu hiệu phân biệt thành viên của gia đình với những người khác cùng họ.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)