1. Quốc tịch là gì

Có thể hiểu Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.

Ở Việt Nam, mọi cá nhân đều có quyền có quốc tịch, tất cả các thành viên của các dân tộc tại Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.

Bên cạnh đó, công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam trừ một số trường hợp có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam).

2.Nguyên tắc xác định quốc tịch

+) Nguyên tắc một quốc tịch:

Nguyên tắc này có thể hiểu là nguyên tắc một quốc tịch triệt để. Luật quốc tịch các nướcmặc dù  không có sự quy định thành nguyên tắc cứng nhưng quan điểm một quốc tịch là quan điểm trong toàn bộ nội dung của pháp luật quốc tịch các nước trên thế giới,  chỉ có một số trường hợp đặc biệt luật quy định mới được có hai quốc tịch.

Bên cạnh đó tính pháp lý của người hai hay nhiều quốc tịch, nên tránh pháp luật quốc tế cung như các pháp luật của các quốc gia  đều quan tâm, trong những thập kỉ trước vấn đề quốc tịch được giải quyết theo hướng hạn chế nhất có thể tình trạng hai hay nhiều quốc tịch, nếu người đó thường cú hay cư trú chủ yếu ở nước ngoài  bên cạnh đó họ dáp ứng điều kiện quy định của pháp luật quốc gia về thôi quốc tịch.

 Với các quốc gia có quy định nguyên tắc một  quốc tịch thì khi nảy sinh vấn đề liên quan đến công dân của quốc gia đó đồng thời có quốc tịch khác, thì nguyên tắc một quốc tịch sẽ  được áp dụng để xác định thẩm quyền giải quyết các vụ việc về cơ quan nhà nước mà người đó là công dân, tuy nhiên về mặt nguyên tắc, không nhằm loại bỏ quốc tịch thứ hai của đương sự . Còn trong quan hệ với quốc gia thứ ba, thì việc quốc gia thứ ba lựa chọn quốc tịch nào trong đó các quốc tịch mà đương sự đang có để giải quyết những vấn đề liên quan đến họ thường dựa trên nguyên tắc: bình đẳng và quốc tịch hữu hiệu, chứ không dựa trên nguyên tắc một quốc tịch của pháp luật mỗi quốc gia.

Cũng có thể thấy rằng cá nhân có hai quốc tịch dù có khó kahwn khi thực hiện cùng một lúc nghĩa vụ công dân hai nước khác nhau  tuy nhiên bên cạnh khó khăn thì thuận lợi của người hai quốc tịch không phải nhỏ như:

Công dân có nhiều hộ chiếu  khi nhập cảnh bằng hộ chiếu nước nào sẽ được coi là công dân nước đó bên cạnh đó khi có xung đột sẽ được bảo hộ theo quốc gia trên hộ chiếu khi nhập cảnh.

Quyền ứng cử của công dân thông thường chỉ được quốc gia công nhận  là công dân chỉ có một quốc tịch nước ứng cử, chính vì vậy nếu ứng viên có nhiều quốc tịch sẽ không được tham gia vào hệ thống chính trị  nếu muốn tham gia người ứng cử phải bỏ quốc tịch khác của mình.

Quyền bầu cử của các cá nhân thường thì các quốc gia chậm phát triển hay đang trên đà phát triển không có sự quy định rõ ràng việc công dân của nước mình ở nước ngoài có được bầu cử hay là không, tuy nhiên đối với các quốc gia phát triển công dân của họ ở nước ngoài có thể bầu cử thông qua hình thức được tổ chức tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài.

Đôi với trẻ em hầu hết các quốc gia đều có sự ưu đãi tối đa dành cho vì xung đột quốc tịch là rất hiếm, việc tạo điều kiện cho trẻ em được công nhận nhiều quốc tịch tối đa hóa quyền trẻ em đến một độ tuoir nhất định khi trẻ lớn lên sẽ được quyền lựa chọn quốc tịch cho mình.

+) Nguyên tắc đa quốc tịch:

Với nhiều các lý do cả chủ quan và khách quan quy định luật quốc tịch các quốc gia trên thế giới  dẫn đến tình trạng một người có hai hay nhiều quốc tịch.

Để giải quyết được vấn đề người nhiều quốc tịch thì các quốc gia dựa trên nguyên tắc một quốc tịch mền dẻo, xét về mặt bản chất không loại trừ một người có thể có hai hay nhiều quốc tịch. Tuy nhiên, trong quan hệ với quốc gia sở tại thì quốc gia chỉ thừa nhận cá nhân có một quốc tịch của quốc gia đó. Ví dụ, Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận công dân có quốc tịch Việt Nam ở trên lãnh thổ Việt Nam cho dù người này có nhiều quốc tịch khác.

3. Điều kiện để nhập quốc tịch Việt Nam

Điều kiện để công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam được nêu tại Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam gồm:

Điều 19. Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam

1. Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;

c) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam;

d) Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam;

đ) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

2. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

c) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Người nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

4. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

5. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

6. Chính phủ quy định cụ thể các điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam.

Như vậy để được nhập quốc tịch Việt Nam với các điều kiện đã nêu trên, người xin nhập quốc tịch cũng cần chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó là đủ khả năng  đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam.

4. Trình tự, thủ tục thực hiện

4.1. Thành phần hồ sơ

Hồ sơ thành phần 
Một số tờ giấy trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật quốc tịch 2008 và Điều 10 Nghị định 16/2020 / NĐ-CP, bao gồm 
- Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam ; 
- Các tờ khác có giá trị thay thế giấy khai sinh, họ chiếu đối với người không có quốc tịch xin nhập quốc tịch Việt Nam là giấy có trống thông tin như tên họ, ngày tháng năm sinh, có dán ảnh của người đó ; 
- Bản khai lý lịch; 
- Công ty tư vấn hợp pháp do cơ quan thẩm định quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam Cư trú tại Việt Nam, Công ty tư vấn pháp luật docơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin nhập quốc tịch Việt Nam Cư trú ở nước ngoài. Tư pháp lý lịch phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ; 
- Giấy chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là bản sao văn bản, chứng chỉ để chứng minh người đó đã học bằng tiếng Việt tại Việt Nam; 
- Bản sao thẻ thường trú Một người xin nhập quốc tịch Việt Nam, phải có thời gian sinh sống làm việc trên lãnh thổ nước Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch. 
- Cuộc sống có khả năng bảo đảm tại Việt Nam giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản; giấy xác nhận mức lương hoặc thu nhập docơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc cấp; giấy xác nhận của cơ quan thuế về thu nhập chịu thuế; giấy tờ chứng minh được lãnh đạo tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.
- Số lượng hồ sơ 03 bộ 

4.2. Trình tự thực hiện 

Nộp hồ sơ 
Theo quy định của Luật quốc tịch năm 2008 được quy định tại điều khoản 1 21, người xin nhập quốc tịch Việt Nam sẽ nộp hồ sơ cho pháp lý tại nơi cư trú 
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ đủ và hợp lệ theo quy định, pháp luật sở hữu và hồ sơ cấp cho người nộp hồ sơ tờ phiếu tiếp nhận hồ sơ. 
- Đối với hồ sơ trường hợp không đầy đủ các tờ giấy hoặc không hợp lệ, thì sở hữu tư pháp thông báo ngay cho người xin nhập quốc tịch Việt Nam để bổ sung và hoàn chỉnh hồ sơ. 
Trình tự thực hiện:
- Sở Tư pháp sẽ gửi văn bản đề nghị của cơ quan cấp tỉnh để xác định nhân thân của người xin nhập Quốc tịch Việt Nam. 
Với thời gian làm việc 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người xin nhập quốc tịch. 
- Trong khoảng thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết quả của nhân viên xin nhập quốc tịch được xác định, sở tư pháp có trách nhiệm hoàn thành hồ sơ cho chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. 
- Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến ​​gửi Bộ Tư pháp trong thời hạn 10 ngày.
- Bộ Tư pháp kiểm tra lại hồ sơ của người xin nhập quốc tịch Việt Nam, nếu họ thấy họ có đủ điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam thì hãy báo cáo Thủ tướng Chính phủ Chủ tịch nước xem xét, quyết định trong thời gian hạn 20 ngày. 
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định đồng ý hay từ việc thay đổi công việc xin nhập quốc tịch Việt Nam cho người có yêu cầu.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập).