1.Khái niệm thừa kế là gì ?

Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc. Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà hệ trước để lại. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định.

Quan hệ thừa kế tồn tại song song với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Mặt khác, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông phân phối của cải vật chất.Sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.Sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa kế, chúng phát triển cùng với xã hội loài người.

2. Thừa kế và xung đột pháp luật về thừa kế trong tư pháp quốc tế 

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của dân luật các nước và cũng là một chế định quan trọng trong tư pháp quốc tế. Chế định thừa kế có mối quan hệ gắn bó hết sức chặt chẽ với chế định sở hữu. Sự gắn bó đó biểu hiện ởchỗ việc để thừa kế và hưởng thừa kế sẽ dẫn đến vấn dề chuyển quyền sở hữu từ người để thừa kê cho người được hưởng quyền thừa kế chỉ có thể là đối tượng của sở hữu. Từ đó thấy rõ tính "tối thượng" của chế định sở hữu trong mối quan hệ với chế định thừa kế, không có quyền sờ hữu sẽ không phát sinh vấn đề thừa kế.
Về nguyên tắc, các quan hệ nảy sinh trong lĩnh vực thừa kế trong phạm vi quốc gia nào do pháp luật về thừa kế cùa quốc gia đó điều chỉnh. Mỗi quốc gia đều có quyền ban hành các quy tắc giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kê trong phạm vi lãnh thổ nước mình. Tuy nhiên, trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng phát triển thì nhiều quan hệ về thừa kê đã vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh 
của hệ thống pháp luật m ột nước. Đó là những quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Những quan hệ này thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế và thường nảy sinh trong các trường hợp như: Khi người để lại thừa kế và người hưởng thừa kế mà tài sản đang ở nước ngoài; khi di chúc được lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài V.V..
Như vậy, khác với thừa kế trong dân luật, thừa kế trong tư pháp quốc tế có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Ngày nay, do nhiều nguyên nhân lịch sử khác nhau, các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoài phát sinh trong đời sống quốc tế ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và phức tạp. Giải quyết tốt các vụ việc này có tầm quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp phấp của công dân các nước khác nhau, đồng thời góp phần vào sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia. Do dựa trên các chế độ sở hữu không giống nhau và do ảnh hưởng về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo ở mỗi nước... cho nên việc thừa kế có yếu tố nước ngoài có cách giải quyết khác nhau thể hiện ngay trong việc xác định nguyên tắc hưởng thừa kế và cơ chế hường thừa kế. Trước hết, pháp luật của các nước quy định khác nhau về diện thừa kế, hàng thừa kế, về định danh tài sản thừa kế, về tính hợp pháp của di chúc V .V .. thí dụ về diện thừa kế theo luật, pháp luật có nước quy định đối lượng rông (có thể cả cháu họ của người chết để lại di sản), pháp luật có nước lại quy định đối tượng hẹp và không phán ra hàng thừa kế. Hoặc về hình thức di chúc, pháp luật  của đại đa số các nước quy định di chúc phải được thể hiện dưới hình thức viết và được cơ quan có thẩm quyền (chẳng hạn cơ quan công chứng) xác nhận mới hợp lệ, nhưng pháp luật một sô' nước quy định di chúc phải do chính người để lại di sản trực tiếp viết mà không cần phải có sự xác nhận của bất cứ cơ quan nào V.V..
Như vậy, do có sự quy định khác nhau giữa pháp luật các nước, cho nên dẫn đến xung đột pháp luật trong giải quyết các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoài. 

3.Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật theo thừa kế pháp luật 

Ớ các nước trong hệ thống pháp luật chung (common law) như: Anh, Mĩ, Achentia, Đan Mạch v.v. để giải quyết các vấn đề thừa kế, pháp luật của các nước này phân di sản thừa kế ra làm hai loại: Bất động sản và động sản. Đối với bất động sản luật được áp dụng để xác định quyền thừa kế là luật nơi có tài sản (Lex rei sitae) kể cả trong trường hợp thừa  kế sẽ được xác đinh theo luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thừa kế (Lex domicille). Cách giải quyết này cũng được nhiẻu nước khác áp dụng (chẳng hạn như Pháp).
Có điểm cần lưu ý là, trong khi áp dụng các nguyên tắc trên để giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế, các nước đó có thể áp dụng các nguyên tắc khác nhau giải quyết vấn đề phân định di sản thừa kế m à người ta thường gọi là giải quyết xung đột pháp luật về định danh. Chẳng hạn ở Anh, Mĩ nội dung của bất động sản được xem xét căn cứ vào nguyên tắc luật nơi có vật (Lex rei sitae) nhưng ờ Pháp thì thực tiễn tư pháp lại chứng minh rằng vấn đề này giải quyết trên cơ sở luật toà án (Lex fori). 
Đối với một số nước Tây âu như Cộng hoà liên bang Đức, Italia, Bồ Đào Nha v.v. việc giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài dựa trên nguyên tắc thống nhất về di sản thừa kế. Điều này có nghĩa là pháp luật của các nước này không phân chia di sản thừa kế ra làm các loại khác nhau để giải quyết, mà thống nhất giải quyết toàn bộ di sản thừa kế theo một nguyên tắc là : Luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế, cụ thể là luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế (Lex patriae).
Cách giải quyết trên về vấn đề thừa kế cũng được một số nước khác áp dụng, chẳng hạn Nhật Bản, Ai Cập V.V.. Ở các nước Đông Âu, căn cứ vào Điều 34 luật về tư pháp quốc tế của Ba lan năm 1965 và Điều 17 luật về tư pháp quốc tế và tố tụng dân sự quốc tế của Tiệp Khắc (cũ) năm 1964 v.v. nguyên tắc thống nhất về di sản thừa kế và giải quyết theo luật quốc tịch của người để lại di sản thừa kế vào 
thời điểm người đó chết cũng được áp dụng. Ở một sô' nước như Anbani, Hung ga ri v.v. việc áp dụng các nguyên tắc kể trên có kèm bảo lưu nhu sau: Đối với những vụ thừa kế có liên quan đến phần đất đai trên lãnh thổ quốc gia này phải áp dụng luật của chính các nước đó đổ giải quyết (chẳng hạn Điều 14 Bộ luật dân sự của Anbani năm 1964).
Theo pháp luật của Liên bang Nga, các quan hộ thừa kế xác định theo luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có nơi cư trú cuối cùng.
Đối với việc thừa kế các công trình xây dựng nằm trên lãnh thổ Nga được xác định theo luật của Nga. Luật pháp của Mông cổ cũng dược quy định tương tự (Điều 405 Bộ luật dân sự Mông cổ).
Một vấn đề đặt ra là trong trường hợp các công trình xây dựng nằm ở nước ngoài sẽ giải quyết theo pháp luật nước nào?
Trên thực tiễn và lý luận, khi giải quyết các vụ thừa kế liên quaẲn đến các công trình xây dựng ờ nước ngoài, các toà án Nga áp dụng luật của nước nơi có các công trình đó. Như vậy, từ quy định xung đột một chiều, qua thực tiễn tư pháp, các toà án Nga đã "biến" nó thành quy phạm xung đột hai chiều và nếu quan niêm rằng khái niệm bất động sản ở Nga được kiến giải là tất cả các công trình xây dựng thì rõ ràng nguyên lắc luật nơi có vật (Lex rei sitae) là nguyên tắc được áp dụng để giải quyết các vấn đề xung đột về thừa kế đối với bất động sản. 

4.Thừa kế theo di chúc 

Để xác định quyền thừa kế theo di chúc trong các quan  hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, các nước trên thế giới áp dụng nhiều nguyên tắc khác nhau. Theo pháp luật của Anh, Mĩ, năng lực hành vi lập di chúc cũng như hình thức của di chúc đối với di sản thừa kế là động sản đều do luật nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản thừa kế điểu chỉnh (Lex domicilii).

Ở Cộng hoà liên bang Đức (và một số nước Tây Âu khác), năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức hợp pháp của di chúc được pháp luật của các nước này quy định như sau: Năng lực hành vi lập di chúc được xác định theo luật nơi cư trú cuối cùng của người lập di chúc, hoặc theo luật nơi có di sản thừa kế. Còn hình thức di chúc được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng được yêu cầu của một trong các hệ thống pháp luật sau:
- Luật nơi có di sản thừa kế;
- Luật quốc tịch của người lập di chúc;
- Luật nơi người đó cư trú;
- Nếu người lập di chúc không tuân thủ quy định về hình thức di chúc của các hệ thống pháp luật trên mà lại thỏa mãn yêu cầu đối với luật nơi lập di chúc thì di chúc đó cũng không bị coi là bất hợp pháp.
Đối với các nước Đông Âu, các quan hệ về thừa kế theo di chúc, về nguyên tắc, chịu sự chi phối của chê định pháp luật chung về thừa kế. Song tính hợp pháp của di chúc lại được xác định theo luật của nước mà người để lại di sản là công dân vào thời điổm lập di chúc. Luật này cũng điều chinh cả vấn đề năng lực lập và hủy bỏ di chúc (Điều 35 
Luật về Tư pháp quốc tế Ba Lan, Điều 15 của Bộ luật dân sự Anbani, Điều 18 Luật về Tư pháp quốc tế Tiệp Khắc (cũ).
Trong việc giải quyết vấn đề vẻ hình thức của di chúc, cùng với luật nơi lập di chúc (Lex loci actus), còn có thể áp dụng luật quốc tịch của người lập di chúc vào thời điểm lập đi chúc để điều chỉnh (ví dụ: Điều 35 luật Ba Lan, mục 2 Điều 15 Bộ luật dân sự Anbani).
Theo pháp luật cùa Nga trước đây, năng lực lập và hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc và các vãn bản hủy bỏ di chúc xác định theo luật của nước nơi người để lại di chúc cư trú vào thời điểm lập giấy tờ. Tuy nhiên, di chúc và việc hủy bỏ di chúc sẽ không bị coi là vô hiệu vì không thỏa mãn đòi hỏi về mặt hình thức, nếu như hình thức cuối cùng của nó thỏa mãn các yêu cầu của luật nơi lập giấy tờ hoặc các yêu
cầu của luật Nga. v ề năng lực lập và hủy bỏ di chúc cũng như về hình thức di chúc đối với các công trình xây dựng trên lãnh thổ Nga đểu xác định theo luật của Nga.
Pháp luật của Mông cổ về thừa kế cũng quy định tương tự như vậy. 

5.Giải quyết xung đột pháp luật thông qua các điều ước quốc tế 

Quá trình phát triển giao lưu dân sự quốc tế đã dẫn tới việc các nước ký kết hàng loạt điều ước nhằm tạo ra các nguyên tắc chuna giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài. Những điều ước này có thể là đa phương hay 
song phương được ký kết giữa các nước với nhau.
Trong số điều ước đa phương, trước hết phải kể đến công ước La-hay năm 1900. Đây là công ước đầu tiên có mục đích thống nhất hoá nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế. Theo quy định của công ước này, luật được áp dụng để điểu chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tô nước ngoài (kể cả đối với động sản và bất động sản) là luật nhân thân của người để lại di sản thừa kế mà cụ thể là luật quốc
tịch của người để lại di sản thừa kế (Lex-patriae).
Nguyên tắc trên còn được ghi nhận trong hàng loạt công ước La-hay tiếp theo như các công ước năm 1904, công ước nám 1925, công ước năm 1928 V.V..
Tuy nhiên, trên thực tế, Công ước La-hay nãm 1900 cũng như các công ước khác cho đến nay vẫn chưa có hiệu lực
pháp luật, bởi vì trong lĩnh vục thừa kế, quvền lợi của các nước tư bản luôn va chạm nhau gay gắt. M ột nguyên tắc thống nhất (Lex patriae) được dề ra dể giải quyết các vấn đề  thừa kế có yêu tô nước ngoài nhu công ước La-hay năm 1900 được ghi nhận có thê thuận lợi và dễ chấp nhận với nước này. vớt nhóm nước này, nhưng khó chấp nhận với nước
khác, với nhóm nước khác. Đặc biệt là dối với các nước từ trước đến nay áp dụng m ột nguyên tắc kiẲác hản mà công
ước để ra để giải quyếì xung đột pháp luật: Nguyên tắc luật nơi cư trú  chẳng hạn. Ngoài ra, còn phải nói rằng,nguyên tắc công ước La-hay năm 1900 để ra trên thực tế ở một số điểm nào đó không đáp ứng được nhu cầu phát  triển giao lưu dân sự quốc tế hiện nay và chưa phù hợp với qua quá trình quốc tế hóa nền kinh tế tư bản .
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)