Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm hợp đồng trong tư pháp quốc tế
- 2. Phương pháp giải quyết xung đột về tính pháp lý của hợp đồng
- 3.Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng
- 4. Giải quyết xung đột pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
- 5. Các nước ký kết hoặc tham gia các điểu ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật
1. Khái niệm hợp đồng trong tư pháp quốc tế
Hợp đổng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự cóyếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài của một hợp đổngtrong tư pháp quốc tế được thể hiện ở một trong những dấuhiệu sau:
Thứ nhất, các bẽn chủ thể ký kết hợp đồng có quốc tịchkhác nhau. Sự khác nhau về quốc tịch của các bên chủ thể đãlà một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột pháp luật.
Bởi vì trong trường hợp này cả hai hệ thống pháp luật (luậtcủa mỗi bên chủ thể) cùng điều chỉnh quyền và nghĩa vụ củacác bên phát sinh từ hợp đồng.
Thứ hai, hợp đồng ký kết ở nước ngoài (nước các bênchủ thể không mang quốc tịch hoặc không có trụ sở).
Trong trường hợp này. luật điều chinh hợp đồng không chìlà luật của các bên chủ thể mang quốc tịch mà luật nơi kýkết hợp đồng cũng có thể điều chỉnh các vấn đề liên quanđến hợp đồng trên cơ sở Lex Loci Contratus. Như vậy, hiệntượng xung đột pháp luật đã xuất hiện và cần được giải quyết theo các phương pháp giải quyết xung đột pháp luậttrong tư pháp quốc tế.
Thứ ba, đối tượng của hợp đồng là tài sản ờ nước ngoài.Trong trường hợp mặc dù các bên chủ thể có cùng quốc tịch,hợp đồng được ký kết ở nước m à các bên mang quốc tịch nhưng đối tượng của hợp đồng là tài sản ờ nước ngoài thì đương nhiên quan hệ hợp đồng này trở thành đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Bởi vì quyển và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong hợp đồng này cùng một lúc chịu sự điều chỉnh bởi luật của nước mà họ mang quốc tịch và luật của nước nơi có tài sản (đặc biệt trong trường hợp tài sản liên quan đến hợp đồng là bất động sản).
2. Phương pháp giải quyết xung đột về tính pháp lý của hợp đồng
Luật pháp của các nước khác nhau có các quy định khác nhau về tính hợp pháp của một hợp đồng. Do vậy, một vấn đề được đặt ra là khi có xung đột pháp luật thì hệ thống pháp luật liên quan nào được áp dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng? Để giải quvết vấn đề này, trong tư pháp quốc tế, các nước quy định những nguyên tấc pháp lý nhất định trong luật pháp của quốc gia mình hoặc ký kết các điều ước quốc tế để đưa ra những nguyên tắc chủ đạo nhằm giải quyết xung đột pháp luật.
Các nước quy định trong luật pháp nước mình những nguyên tác nhàm xác định tinh hựp pháp của một hợp đồng cỏ yếu tỏ nước ngoài
Nhìn chung luật pháp của hầu hết các nước xem xét tính hợp pháp của một hợp đồng trong tư pháp quốc tế trên ba cơ sở pháp lý đó là: Hình thức của hợp đồng; nội dung của hợp đồng và các điểu kiện có hiệu lực của hợp đổng.
Giải quyết xung đột pháp luật vé hình thức của hợp đồng
Đối với các nước Đông Âu, người ta căn cứ vào luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đổng, trên cơ sở ưu tiên áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng để giải quyết xung đột pháp luật vé hình thức của hợp đồng. Trong trường hợp hợp đổng ký kết ở một nước nhưng thực hiện ở nước khác thì luật nơi ký kết hợp đồng vẫn được áp dụng để xem xét hình thức của hợp đồng. Nếu luật nơi ký kết hợp đồng không hợp pháp về mặt hình thức thì luật nơi thực hiện hợp đồng vẫn có thể được áp dụng để xem xét hình thức hợp đồng khi toà án nơi giải quyết tranh chấp xét thấy hình thức của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật nước mình.
Đối với đa số các nước Bắc Âu, Tây Âu và châu Mỹ, khi giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng thì luật nơi ký kết hợp đồng được ưu tiên áp dụng. Trong trường hợp nếu hợp đồng bị coi là bất hợp pháp về mặt hình thức theo luật nơi ký kết nhưng theo luật nhân thân của các bên chủ thể hoặc theo luật toà án nơi xét xử tranh chấp coi hợp đổng là hợp pháp về mặt hình thức thì hợp đổng vẫn có giá trị pháp lý.
Theo pháp luật Việt Nam: khoản 1 Điều 770 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: "Hình thức của hợp dồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đổng. Trong trường hợp đồng dược giao kết ở nước ngoài mà vi phạm
quy định vê' hình thức hợp đồng theo pháp luật cùa nước đó,nhimg không trái với quy định về hình thức hợp đổng theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đổng được giao kết ở nước ngoài đó vẫn được công nhận tại Việt Nam
Về hình thức cùa hợp đồng, pháp luật Việt Nam quy định một số loại hợp đổng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý.
Ví dụ: Đối với hợp đổng mua bán hàng hoá giữa một bên là thương nhàn Việt Nam và một bên là thương nhân nước ngoài thì hình thức của nó phải được thể hiện dưới hình thức văn bản (khoản 2 Điểu 27 Luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngàv 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006).
3.Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng
Để xác định tính hợp pháp về nội dung của một hợp đồng, nói chung, tuyệt đại đa số các nước áp dụng nguyên tắc thỏa thuận. Bời vì vể mặt bản chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhàm xác định quyền và nghĩa vụ cùa họ tronng một siao dịch dân sự. Như vậy, đối với một hợp đổng có yếu tố nước ngoài, các bên chủ thể có thể thỏa thuận mọi vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ. Theo nguyên tắc này. các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồns. Trẽn thực tế các bên thườna thỏa thuận áp dụno các hệ thống pháp luật có liên quan đến hợp đồng.
Để xác định tính hợp pháp về nội dung hợp đồng có yếu tố nước ngoài, bên cạnh việc áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, người ta còn áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng. Theo đó những điều các bên thỏa thuận trong hợp đổng không được trái với luật nơi ký kết hợp đồng.
Như vậy, một hợp đồng có yếu tố nước ngoài được coi là hợp pháp về mặt nội dung khi nó chứa đựng các điều khoản phù hợp với luật do các bên thỏa thuận áp dụng và đồng thòi không trái với quy định pháp luật nước nơi ký kết hợp đồng.
Theo pháp luật Việt Nam thì hợp đổng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyển và nghĩa vụ dân sự (Điều 388 Bộ luật dân sự); khoản 1 Điều 769 Bộ luật dân sự quy định: Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân sự được xác định theo luật pháp của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác.
Hợp đồng dàn sự giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật của Việt Nam.
Tóm lại, căn cứ vào Điều 388, Điểu 769 Bộ luật dân sự Việt Nam thì ở Việt Nam, việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng sẽ áp dụng nguyên tắc thỏa thuận hoặc áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đồng (tùy theo từng trường hợp cụ thể).
4. Giải quyết xung đột pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Có hai vấn đề khi xem xét đến điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng là: Khi nào thì một hợp đổng phát sinh hiệu lực và chủ thể của hợp đồng với điều kiện như thế nào thì đủ nãng lực ký kết m ột hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật của các nước khác nhau có các quy định không giống nhau khi điều chỉnh hai vấn đề này. Tuy nhiên, luật pháp của các nước thường đưa ra các nguyên tắc nhằm xác định luật điều chỉnh việc xác định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Thứ nhất, để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của một hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì hầu hết luật pháp các nước áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đồng (tùy theo từng trường hợp).
Theo pháp luật Việt Nam: Căn cứ vào tinh thần của Điều 769 và 770 Bộ luật dân sự Việt Nam thì điều kiện có hiệu lực của hợp đồng sẽ xác định theo luật nơi ký kết hợp đổng hoặc theo luật nơi thực hiện hợp đồng. Đối với các hợp đồng liên quan đến bất động sản thì điều kiện có hiệu lực của chúng sẽ áp dụng luật nơi có vật.
Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: Hợp đổng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 405 Bộ luật dân sự). Đối với một số hợp đồng mà pháp luật quy định phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của các cơ quan có thẩm quyển thì việc công chứng hoặc chứng nhận của các cơ quan này được xem như những điểu kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Thứ hai. về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các bèn chú thể trong hợp đồng thì hầu hết luật pháp của các nước quy định việc xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các bên chủ thể của hợp đồng có vếu tố nước ngoài sẽ căn cứ vào luật nhân thân của họ (việc áp dụng luật quốc tịch hay luật nơi cư trú sẽ được xem xét trong từng trường hợp cụ thể).
Theo pháp luật Việt Nam, việc xác định năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài được quy định tại Điều 761 Bộ luật dân sự như sau: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam", v ề năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật nước mà người đó là công dân; trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của họ được xác định theo pháp luật Việt Nam.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam (tùy theo từng trường hợp) năng lực hành vi ký kết hợp đồng của các bên chủ thể được xác định theo luật quốc tịch của họ (Lex Natinonalis) hoặc theo luật nơi thực hiện hành vi (Lex Loci Actus).
5. Các nước ký kết hoặc tham gia các điểu ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật
Để giải quyết xung đột pháp luật vổ việc xem xét tính hợp pháp của một hợp đổng trong tư pháp quốc tế, bên cạnh việc quy định các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật ở trong các văn bản pháp luật trons nước, các quốc gia còn thường ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế tay đôi hoặc nhiều bên. Trong đó các quốc gia thỏa thuận một số nguyên tắc nhất định làm cơ sở để xác định tính hợp pháp của một hợp đồns có yếu tố nước ngoài.
Trong các điều uớc quốc tế tay đôi thì luật nơi ký kết hợp đồng thường được áp dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng. Tuy nhiên, luật nơi có vật cũng được áp dụng nếu hợp đồng liên quan đến tài sản là bất động sản.
V í dụ: Trong các điều ước quốc tế tay đôi m à Việt Nam ký kết với các nước có liên quan đến vấn đề xác định tính hợp pháp cùa hợp đồng thì luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi có vật sẽ được áp dụng để xác định tính hợp pháp của một hợp đổng có yếu tố nước ngoài (Điều 32 Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam và Liên xô (cũ); Điẻu 32 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Cu Ba). v ể việc xác định năng lực hành vi ký kết hợp đồng có yếu tô nước ngoài, các điều ước quốc tế thường quy định sẽ áp dụng luật quốc tịch của các bên chủ thể để xem xét năng lực hành vi của các bẽn chủ thể của hợp đồng.
Trong các điểu ước quốc tế đa phương, nguyên tắc tự do lựa chọn của các bèn chủ thể được xem là nguyên tắc cơ bản để xác định tính hợp pháp của một hợp đồng có vếu tố nước ngoài. Theo đó luật do các bên lựa chọn khi xác lập hợp đồna sẽ là luật xác định tính hợp pháp cùa hợp đồng. M ột trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất liên quan đến việc xác định tính hợp pháp của một hợp đổng là Công ước Rôm a 1980 về luật áp dụng cho trách nhiệm hợp đồng (The Rome Convention On The Law Applicable To
Contractual Obligations). Đây là công ước quốc tế được hầu hết các nước thuộc khối cộng đồng châu Âu tham gia.
Nguyên tắc cơ bản của Công ước Rôma 1980 là nguyền tắc tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tô nước ngoài. Theo nguyên tắc này, thì các bên chủ thể của hợp đồng có thể thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng.
Việc lựa chọn luật áp dụng phải được thể hiện trong điều khoản của hợp đồng. Khi xác lập hợp đồng, các bén có thể thỏa thuận chọn luật để áp dụng cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng (khoản 1 Điều 3 Công ước). Nếu các bên không chọn luật áp dụng thì luật của nước có quan hệ gần nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng (khoản 1 Điểu 4 Công ước).
Ngoài Công ước Rôma 1980 còn có nhiều điều ước quốc tế khác liên quan đến việc áp dụng luật để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng như: Công ước Lahay ngày 14/3/1987 về luật áp dụng cho đại lý, Công ước Lahay ngày 30/10/1986 về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)