Pháp quyền (trong tiếng Anh là Rule of law; gần gũi với nó, trong tiếng Đức là Rechtstaut và trong tiếng Pháp là Etat de Droit) là một khái niệm có nội hàm rất “mở”. Tùy thuộc vào hoàn cảnh chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia mà khái niệm pháp quyền có nội hàm rộng, hẹp khác nhau. Ngày nay, có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về pháp quyền trong các cuốn từ điển và trong các tài liệu của các tổ chức quốc tế.
Ví dụ, pháp quyền là sự hạn chế việc sử dụng quyền lực tùy tiện bằng cách ràng buộc quyền lực vào những đạo luật được xây dựng rõ ràng, chặt chẽ.
Theo Từ điển Black’s law, pháp quyền là “trạng thái tuyệt đối rằng luật pháp đứng trên mọi công dân bất chấp sự khác biệt về quyền lực giữa các công dân”.
Hoặc theo Liên hợp quốc, pháp quyền là “nguyên tắc quản trị mà trong đó tất cả cá nhân, tổ chức, thiết chế, cả công cộng và tư nhân, kể cả nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật, mà pháp luật này được công bố công khai, được áp dụng bình đẳng và được phân định một cách độc lập, phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế”.
Các định nghĩa trên tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều cùng chung một nhận thức cốt lõi về pháp quyền, đó là:
Pháp luật có tính tối thượng mà mọi chủ thể bao gồm cả người dân và nhà nước đều bị điều chỉnh bởi pháp luật và đều phải tuân thủ pháp luật; pháp luật đó phải là pháp luật bảo vệ công lý, công bằng và lẽ phải, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và pháp luật đó được hình thành một cách dân chủ, chứa đựng các giá trị của quốc gia, dân tộc và quốc tế.
1. Các nguyên tắc pháp luật cơ bản của Việt Nam
Nguyên tắc pháp luật gồm hai loại, những nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù.
Các nguyên tắc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu và được đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên lí, tư tưởng chỉ đảo để giải đáp một vấn đề lớn là hệ thống pháp luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế độ nào.
Các nguyên tắc pháp lý đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đáp một vấn đề có tính chất đặc thù là hệ thống pháp luật sẽ củng cố và bảo vệ chế độ đó như thế nào.
Nguyên tắc là luận điểm gốc của học thuyết nào đó, tư tưởng chỉ đạo của quy tắc hoạt động hay là niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi, đồng thời cũng có thể là nguyên lý cấu trúc hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó.
Ngoài ra, nguyên tắc có thể là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo.
Thứ nhất, nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của nhà nước ta, được quán triệt trong ND pháp luật, trong thực hiện, áp dụng pháp luật và là nguyên tắc hiến định. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định:
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân đòi hỏi ND của pháp luật cũng như hoạt động tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật phải thể hiện tính toàn quyền của nhân dân, quán triệt tư tưởng nhân dân là chủ thể cao nhất của quyền lực
Những năm gần đây, nhân dân ta đã tham gia vào việc góp ý xây dựng các văn bản pháp luật, kiểm tra giám sát các hoạt động của Nhà nước và xã hội, đặc biệt là hoạt động tư pháp.
Thứ hai, nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thể hiện ở việc ghi nhận các quyền tự do, dân chủ của công dân, quy định những hình thức pháp lí để đảm bảo sự tham gia của nhân dân vào quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Dân chủ được thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ pháp lí của cá nhân, tổ chức và phải thông qua sự ghi nhận của pháp luật, bảo đảm thực hiện bằng Nhà nước và xã hội dưới những hình thức phù hợp. Pháp luật quy định những hình thức thực hiện dân chủ: trực tiếp và gián tiếp (đại diện), nội dung và cách thức thực hiện, cơ chếthực hiện các hình thức đó. Xét trên quy mô toàn xã hội cũng như trong các cộng đồng dân cư, dân chủ chỉ đảm bảo thực hiện tốt nhất khi thực hiện đổi mới mạnh mẽ hệ thống chính trị, đặc biệt là cơ sở.
Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quy chế dân chủ cơ sở, tiêu biểu như Nghị địnhsố 29/CP ngày 11-5-1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là quy chế dân chủ ở cơ sở).
Thứ ba, nguyên tắc nhân đạo
Nguyên tắc này xuất phát từ sự tôn trọng, quan tâm và bảo vệ con người – giá trị cao quý nhất. Nhân tố con người, hệ thống các quyền và tự do của họ phải được luật định, có cơ chế hữu hiệu đảm bảo TH trên nguyên tắc thống nhất quyền và nghĩa vụ, tự do và trách nhiệm, phát huy tính tích cực, tự do sáng tạo của con người. Nguyên tắc nhân đạo thể hiện các biện pháp xử lí đối với người vi phạm pháp luật không nhằm mục đích xúc phạm thể xác và danh dự, nhân phẩm. Nhân đạo còn thể hiện trong hệ thống các quy định theo hướng có lợi nhất cho con người trong khuôn khổ hợp phápvà hợp đạo đức.
Trong bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã TH xu hướng giảm các bện pháp xử lí hình sự vừa đảm bảo nghiêm minh vừa có tính giáo dục mở đường cho người phạm tội hoàn lương.
Thứ tư, nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý
Nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được thể hiện : các chủ thể pháp luật vừa có các quyền vừa có các nghĩa vụ pháp lí tương ứng Điều 15 Hiến pháp 2013 khẳng định
- Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
- Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.
- Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
- Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Nguyên tắc này cũng thể hiện rõ nét mới quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân trong điều kiện Nhà nước pháp quyền. Giữa nhà nước và cá nhân có mối quan hệ bình đẳng, đồng trách nhiệm.
Thứ năm, nguyên tắc công bằng
Ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện công bằng pháp luật là một trong những giá trị xã hội to lớn của pháp luật, đặc biệt là trong Nhà nước pháp quyền
Nguyên tắc công bằng của xã hội thể hiện trên nhiều phương diện, tiêu biểu như :việc quy định và áp dụng các biện pháp xử lí phải phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, quy định mức độ hưởng thụ tương xứng với sự đóng góp, cống hiến,….Trong từng lĩnh vực quan hệ xã hội, công bằng lại có những đ điểm riêng, như công bằng trong việc hưởng thụ các giá trị VHNT, CS lao động, việc làm, y tế và giáo dục,…
Thứ sáu, nguyên tắc: “được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” đối với nhân dân và nguyên tắc “Chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép” đối với nhà nước
Đây là hai nguyên tắc phổ biến của pháp luật đang được quan tâm đặc biệt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa.
- Nguyên tắc thứ nhất được áp dụng đối với các cá nhân.
- Nguyên tắc thứ hai được áp dụng cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định. Các cơ quan Nhà nước chỉ được hoạt động trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình đã được pháp luật quy định.
Các tìm kiếm liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của pháp luật việt nam, các nguyên tắc cơ bản của pháp chế xhcn, nguyên tắc pháp luật là gì, các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế, ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự, nguyên tắc công bằng trong pháp luật việt nam, bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế của việt nam, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong bộ luật dân sự năm 2015, nguyên tắc của pháp luật, Nguyên tắc chung của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng.
2. Nguyên tắc pháp luật trong mỗi ngành luật
Trong mỗi ngành luật bất kỳ trong hệ thống pháp luật phụ thuộc vào đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó.
2.1 Đối với Luật hình sự:
Nếu đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự Việt Nam là những quan hệ xã hội phát sinh giữa hai chủ thể quan trọng và có quyền, nghĩa vụ nhất định là Nhà nước và người phạm tội, thì nguyên tắc của luật hình sự phải bảo đảm quyền của Nhà nước và phản ánh bản chất của chế độ cũng như quyền lợi của người phạm tội.
Như vậy, nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo và các định hướng đường lối cho toàn bộ quá trình quy định tội phạm và hình phạt, áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử.
2.2 Đối với Luật dân sự:
Luật dân sự có đối tượng điều chỉnh bao gồm các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ, có đền bù giá trị tuân theo quy luật giá trị của nền kinh tế sản xuất hàng hóa và một số quan hệ nhân thân.
Chính đặc điểm đặc thù của nhóm quan hệ đó do luật dân sự điều chỉnh đã giúp cho nhà làm luật xác định rõ nguyên tắc dân sự.
Vậy, nguyên tắc đó là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật dân sự, đồng thời là việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó.
2.3 Đối với Luật hành chính;
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước
+ Quan hệ phát sinh giữa các cơ quan hành chính trong việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước; Ví dụ: Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng thực hiện ngay các biện pháp giãn cách xã hội nhằm khắc phục sự lây lan dịch bệnh Covid-19 trong cộng đồng.
+ Quan hệ phát sinh trong quá trình cơ quan Nhà nước xây dựng, quản lý chế độ công tác nội bộ. Ví dụ: Chánh án tòa án nhân dân tối cao ra quyết định bổ nhiệm thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
+ Quan hệ hình thành trong quá trình các cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện một số hoạt động quản lý hành chính Nhà nước theo pháp luật quy định. Ví dụ: Đội cảnh sát cơ động được giao nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh trong quá trình diễn ra Hội nghị thượng đỉnh tại Hà Nội.
Do đó, xét trên góc độ Luật hành chính, nguyên tắc của ngành luật này là tổng thể các quy phạm pháp luật hành chính có nội dung là những định hướng chủ đạo, cơ bản làm cơ sở để tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.