1. Lịch sử hình thành của nguyên tắc suy đoán vô tội

Thực chất nguyên tắc này xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Hoàng đế La Mã Justinian đã ban hành một bản tóm lược luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó có một quy định với nội dung là: “Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, bên khẳng định chứ không phải bên phủ định”. Sau đó, trong các triều đại La Mã, nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình xét xử hình sự.

Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp ngày 26/8/1789 được coi là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt nghiêm khắc”. Nguyên tắc này đã được công nhận và quy định trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc: “Một người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó” và trong khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…”. Ở nước ta, nguyên tắc này mới bổ sung và quy định lần đầu tiên trong pháp luật tố tụng hình sự 2015 tại Điều 13.

2. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội

2.1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được lỗi của họ

Yêu cầu này đặt ra để tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc tội trong quá trình tiến hành tố tụng và cũng phù hợp với Khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hợp Quốc: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…”. Trên thực tế thì tuy những người bị buộc tội mới chỉ đang ở trong quá trình điều tra, xét xử nhưng họ vẫn bị số đông người trong xã hội coi là người phạm tội, là người có tội. Điều này xuất phát từ sự không hiểu biết về luật pháp, suy đoán một chiều,… Thời gian suy đoán vô tội của người bị buộc tội là từ thời điểm Viện kiểm sát buộc tội đến thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có thể là bản án sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm. Các cơ quan tố tụng một mặt phải đối xử với họ như người không có tội, mặt khác, phải tạo mọi điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác. Tuy nhiên, trong thực tế có người bị buộc tội đã có bản án có hiệu lực pháp luật nhưng người bị kết án đó vẫn được quyền suy đoán là mình vô tội, đó là khi họ bị kết án oan. Một số vụ án oan nổi tiếng có thể kể đến như vụ của Nguyễn Thanh Chấn, Trần văn Thêm, Huỳnh Văn Nén,…

2.2. Việc truy tố, xét xử phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Nội dung này nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế. Khi đã nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý thì sẽ chống lại được sự tùy tiện trong quá trình điều tra, xét xử bảo đảm cho quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội cũng như hạn chế sự chuyên quyền từ phía các cơ quan có thẩm quyền. Nội dung này đã được BLTTHS 2015 cụ thể hóa tại Điều 7: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.

Đi vào vụ án cụ thể sau: Sáng 6/12/2012 Vũ Phan Điền đi xe máy đến đền Nước (thị xã Tam Điệp, Ninh Bình). Trong lúc dừng xe chờ tàu đi qua thì có bắt gặp công an thị xã Tam Điệp đang đi tuần. Nghi ngờ anh Điền có liên quan đến ma túy, công an đã đưa anh về trụ sở phường Trung Sơn để làm việc. Qua kiểm tra cơ quan chức năng đã phát hiện một túi nilong chứa tám gói giấy bạc nhỏ màu vàng, mỗi gói chứa một dạng chất bột màu trắng nằm trong mặt nạ xe máy của anh Điền. Anh Điền khai nhận rằng đây là Heroin mình đã mua của một người không quen biết để về sử dụng. Kết quả giám định cho thấy các gói giấy bạc kia đều là chế phẩm của Heroin. Đến tháng 3 năm 2013 anh Điền bị TAND thị xã Tam Điệp tuyên phạt 30 tháng tù vì tội “Tàng chữ trái phép chất ma túy”. Anh Điền kháng cáo kêu oan cho rằng mình bị bức cung, nhục hình. Từ đó đến nay qua nhiều lần xét xử anh Điền đã 2 lần được tòa án tuyên vô tội, 6 lần bị tòa tuyên có tội và một lần tòa tuyên trả hồ sơ điều tra bổ sung. Chính vì vậy anh Điền cứ bị bắt rồi thả, thả rồi bắt theo các phán quyết của Tòa. Lý do là ở vụ án này xuất hiện hàng loạt mâu thuẫn cũng như những sai phạm trong thủ tục tố tụng. Cụ thể: các bút lục bị chỉnh sửa từ "vừa mua ma túy" thành "đã mua ma túy"; việc thu giữ tang vật không được quay phim, chụp hình theo đúng trình tự; biên bản ghi lời khai đã hết dòng kẻ, lẽ ra phải được chuyển qua trang khác nhưng lại có dấu hiệu bị ghi thêm chèn vào bên dưới với nét chữ nhỏ hơn... Tại tòa, ngay cả người làm chứng cũng khai họ chỉ ký vào biên bản chứ không khai các nội dung ở cơ quan điều tra.

2.3. Phải bảo đảm xác định và xét xử các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện

Nội dung này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo một cách khách quan nhất, công tâm nhất. Trách nhiệm chứng minh này thuộc về các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tại Điều 15 BLTTHS có quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Để xác định một người là người phạm tội trên cơ sở tiến hành truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự với người đó thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ chứng minh rằng người đó đã thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Nếu một người mặc dù đã thực sự thực hiện tội phạm nhưng do các cơ quan có thẩm quyền không thể chứng minh được thì họ không có quyền truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó. Người bị buộc tội không phải có nghĩa vụ chứng minh cho sự vô tội của mình điều đó cũng có nghĩa là người bị buộc tội có quyền tự mình đưa ra những chứng cứ để chứng minh bản thân trong sạch. Song vì một vài lý do nào đó mà người bị buộc tội cũng có thể từ chối chứng minh bản thân vô tội khi đó các cơ quan có thẩm quyền tố tụng không thể coi họ là người phạm tội. Hiện nay quyền im lặng của bị can, bị cáo đã được gián tiếp thừa nhận tại điểm d khoản 2 Điều 60 và điểm h khoản 2 Điều 61 của BLTTHS 2015: “Bị can, bị cáo có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Theo đó, bị can, bị cáo có thể trình bày lời khai hoặc không. Việc không trình bày lời khai thể hiện ở việc bị can, bị cáo im lặng trước cơ quan tiến hành tố tụng. Khi bị can, bị cáo im lặng, cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền ép buộc họ phải khai báo bằng các biện pháp không hợp pháp. Để bảo đảm cho yêu cầu này, BLTTHS đã đặt ra yêu cầu nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong quá trình thu thập chứng cứ và thực hiện các hoạt động tố tụng khác (Điều 10).

Thực tế tình trạng không khách quan khi đánh giá chứng cứ từ phía Tòa án ngày càng xuất hiện nhiều. Bên cạnh pháp luật, quy chế nghề nghiệp thì quy phạm đạo đức của Thẩm phán quyết định rất nhiều đến vấn đề này. Ví dụ như ở vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn. Cụ thể, 22h ngày 15/8/2003 Nguyễn Văn Thanh người làng Me (xã Nghĩa Chung, Việt Yên, Bắc Giang) đi chơi cùng bạn về thấy cửa nhà chị Hoan không khóa, trong nhà tắt điện, có tiếng trẻ con khóc. Thanh đã gọi cho bà Hội – mẹ chị Hoan đến xem tình hình. Khi bà Hội đẩy cửa vào thì phát hiện chị Hoan đang nằm trong vũng máu và chiếc gối ngủ còn đậy trên mặt. Ngày 16/8/2003 cơ quan công an vào cuộc tiến hành khám nghiệm tử thi và hiện trường phát hiện dưới chân nạn nhân có những mảnh chai vỡ và một lưỡi dao rơi ở bên cạnh. Trên nền nhà xuất hiện nhiều vết chân dính máu. Kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy, nạn nhân chết do chấn thương ở đầu, mặt, vết thương ở bụng làm đứt động mạch chủ và mất mấu cấp dẫn đến sốc, trụy tim. Từ những lời khai của nhân chứng, ông Nguyễn Thanh Chấn bị đưa vào diện tình nghi. Tuy nhiên điều đáng nói ở vụ án này là quá trình điều tra rất mập mờ, chứng cứ kết tội không thuyết phục thậm chí là có dấu hiệu ép cung, mớm cung người bị buộc tội. Trước hết là về dấu chân xuất hiện tại hiện trường, Bản án sơ thẩm đã đưa ra khẳng định rằng “Cơ quan điều tra xác định kích thước vết chân của Nguyễn Thanh Chấn cho thấy bàn chân trái của Chấn tính gần đúng với vết chân bỏ lại hiện trường.”. Khẳng định của bản án là dấu chân “gần đúng” chứ không chắc chắn đó là dấu chân của ông Chấn. Cùng đó tại hiện trường xuất hiện lưỡi dao nhưng không thu giữ được phần chuôi nên việc cho ông Chấn nhận diện hung khí là không đảm bảo sự khách quan. Khi nhân chứng đưa ra lời khai rằng: “vào lúc 19h30 Nguyễn Thanh Chấn vẫn còn múc nước tại giếng nước nhà chị Hoàng thị Viễn, khoảng thời gian 20 phút từ 19h đến 19h25 phút Nguyễn Thanh Chấn đi đâu làm gì với ai thì bị cáo hoàn toàn không chứng minh được” thì Tòa án vẫn quy kết cho rằng đó là khoảng thời gian mà ông Chấn gây án. Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và ngay cả sau khi xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Thanh Chấn đều kêu oan và cho rằng những lời khai trước tòa là bị công an dùng nhục hình, ép cung, bắt buộc bị cáo phải nhận tội giết chị Hoan; sau đó được điều tra viên hướng dẫn khai báo sự việc, vẽ sơ đồ hiện trường và được tập luyện nhiều lần để thực nghiệm điều tra. Tuy nhiên, tòa phúc thẩm đã bác bỏ lời khai của bị cáo khi đưa ra nhận định: “Nhận thấy lời ngụy tạo trên đây của Chấn không có căn cứ bởi tính manh nha, xảo trá của sự bịa đặt”.

Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư của ông Chấn liên tục đưa ra những yêu cầu và nhận định xét thấy đều rất hợp lý nhưng đều không được Tòa tiếp nhận. Ví dụ như luật sư cho rằng việc thu thập chứng cứ là chưa đầy đủ, rõ ràng vì không tìm được chuôi dao tang vật hay yêu cầu phải làm rõ xem liệu rằng dấu chân ở hiện trường có thực sự khớp với dấu chân của ông Chấn hay không. Ngoài ra còn rất nhiều chứng cứ có lợi cho ông Chấn đều bị Tòa bác bỏ như lời khai của bà Nhâm, ông Thực rằng khoảng 19h30 ông Thực gọi điện tại quán nhà ông Chấn và ông Chấn bấm máy cho ông Thực gọi. Luật sư cũng đưa ra Bảng kê điện tử, tự động thanh toán tiền điện thoại do Bưu điện cung cấp tuy nhiên tòa vẫn cho rằng những tài liệu này không thể là bằng chứng khẳng định vào thời điểm thực hiện cuộc gọi, Nguyễn Thanh Chấn là người bấm máy. Căn cứ vào những bình luận của mình Tòa Phúc thẩm đã tuyên y hệt bản án của Tòa sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Thanh Chấn bản án chung thân về tội “giết người” theo điểm n, khoản 1, điều 93 Bộ luật hình sự, đã có xem xét tình tiết giảm nhẹ do bị cáo là con liệt sĩ. Đến ngày 25/10/2013, Lý Nguyên Chung kẻ giết chị Nguyễn Thị Hoan ra đầu thú với cơ quan pháp luật và khai nhận mình là người giết chị Hoan vào tối ngày 15/8/2003 để lấy tài sản của chị Hoan… Kết quả là ông Nguyễn Thanh Chấn bị tù oan hơn 10 năm mới được minh oan theo thủ tục tái thẩm.

2.4. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án

Hay nói cách khác là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

Bản thân nguyên tắc suy đoán vô tội là phải coi trọng chứng cứ hơn trọng cung nhưng thực tế thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lại coi trọng cung hơn chứng cứ dẫn đến nhiều vụ án oan sai. Thậm chí còn xuất hiện tình trạng ép cung, mớm cung, dụ cung bị can, bị cáo bằng nhục hình. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do bản thân người cán bộ không có năng lực, không tuân thủ pháp luật, chạy theo thành tích. Tuy nhiên nếu như các cơ quan xét xử không coi trọng lời khai nhận tội từ bị cáo hơn việc tập trung soi xét các chứng cứ được đưa ra thì bản thân các cơ quan điều tra cũng khó lòng nôn nóng thúc ép người bị buộc tội phải nhận tội cho bằng được. Hậu quả không chỉ là oan sai mà thậm chí còn phải đánh đổi bằng chính tính mạng của người bị buộc tội. Đơn cử như vụ 5 công an ở Thành Phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã dùng nhục hình khiến cho anh Ngô Thanh Kiều tử vong. Một trong những vụ án oan sai điển hình cũng từ việc quá coi trọng lời nhận tội của bị cáo mà không cần biết lời khai ấy có phù hợp với chứng cứ hay không là vụ của 7 thanh niên ở huyện Trần Đề, Sóc Trăng. Sáng mùng 6/7/2013 tại ấp Lâm Dồ, xã Đại n 2 huyện Trần Đề xảy ra vụ án giết người mà nạn nhận là anh xe ôm cùng huyện tên Lý Văn Dũng. Qua điều tra các cơ quan có thẩm quyền bắt tạm giữ được 7 thanh niên gồm các anh Khâu Sóc, Thạch Mươl, Thạch Sô Phách, Trần Văn Đở, Trần Cua, Trần Hol về hành vi giết người. Riêng Nguyễn Thị Bé Diễm bị khởi tố về hành vi không tố giác tội phạm. Tuy nhiên các bị can trên đều không thừa nhận hành vi phạm tội. Ngay sau đó họ bị cơ quan điều tra dùng nhục hình. Cụ thể anh Đờ bị dùng còng số 8 treo một tay lên cửa sổ, chỉ để các đầu ngón chân chạm sàn rồi bị đánh, thúc đầu gối vào bụng. Anh Phách bị dùng khăn bọc nước đá đặt vào bộ phận sinh dục. Sau quá trình tra tấn các thanh niên không chịu nổi nên đã thừa nhận gây án mạng. Trong quá trình xét xử họ cũng liên tục kêu oan nhưng không được Tòa án xem xét. Khi vụ án chuẩn bị kết thúc điều tra thì hung thủ là Lê Mỹ Duyên và Phan Thị Kim Xuyến tự thú, khai nhận đã giết anh Dũng để cướp tài sản. Lúc này cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới bắt tay vào điều tra và nhận thấy lời khai của hai bị can hoàn toàn trùng khớp với những tình tiết của vụ án cũng như những chứng cứ ở hiện trường. Lúc này 7 người thanh niên mới được giải oan. Rõ ràng nếu như Tòa án chỉ căn cứ vào duy nhất lời khai nhận tội của người bị buộc tội thì không thể đảm bảo tính toàn diện, khách quan trong quá trình xét xử, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, án oan,.. do đó phải luôn đặt lời khai ấy trong mối quan hệ với những chứng cứ khác.

2.5. Mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó

Điều 13 BLTTHS 2015 cụ thể như sau: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Quy định này xuất phát từ thực tế của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi sự buộc tội đối với người bị buộc tội phải dựa trên những căn cứ xác thực. Nếu không chứng minh được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đó đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ. Mục đích khi đặt ra nội dung này là mọi tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm.

Tuy nhiên trên thực tế có thể xảy ra trường hợp, mặc dù các cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định nhưng chứng cứ thu được không đủ sức thuyết phục thì nguyên tắc suy đoán vô tội phải thực hiện theo hướng “Thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”. Mặc dù tinh thần của BLTTHS là suy đoán vô tội nhưng thực tiễn tố tụng lại cho thấy cơ quan tố tụng cố tình suy đoán có tội dẫn đến tình trạng nhiều vụ án vẫn chưa được giải quyết mà luôn trong tình trạng treo, những người thực sự có tội thì vẫn luôn ở mãi trong giai đoạn điều tra,…Đi vào một vụ án cụ thể như sau: Ông Đào Ngọc Tỉnh sinh năm 1949, nguyên là kế toán trưởng của Công ty Thiết bị điện tử giao thông vận tải tại Hà Nội. Ông bị cáo buộc đã rút tiền tại ngân hàng của Công ty nhưng không nhập quỹ và nhiều lần vay tiền quỹ nhưng không có chứng từ, không chứng minh được tiêu tiền vào việc gì. Vụ án đã trải qua nhiều vòng tố tụng, đến nay người ta vẫn phải chứng kiến cảnh một ông lão đi hầu tòa. Ở vòng tố tụng thứ nhất, ông Tỉnh bị kết án 17 năm tù, sau đó bản án này bị hủy để điều tra lại vì chưa đủ căn cứ buộc tội. Đến vòng tố tụng thứ 2, dù các chứng cứ kết tội không khác trước nhưng ông Tỉnh lại “được” TAND TP Hà Nội giảm xuống còn 15 năm tù, sau đó bản án này cũng bị hủy để điều tra lại từ đầu. Đến vòng tố tụng thứ 3, TAND TP Hà Nội thay vì áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để tuyên bị cáo không phạm tội thì lại làm thao tác trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Hiện vụ án sau 18 tháng trả hồ sơ, điều tra bổ sung vẫn không có bất cứ một chứng cứ mới mẻ nào được đưa ra để có thể kết tội bị can Tỉnh nhưng VKSNDTC vẫn ra quyết định truy tố với những căn cứ hầu như không khác trước.

Như vậy bất kỳ một tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định. Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thông qua các thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nội dung này của nguyên tắc xuất phát từ chức năng và nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ công lý. Sau khi người bị buộc tội đã được chứng minh theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định, nếu có đầy đủ căn cứ kết tội thì tòa án sẽ ra bản án kết tội. Nói một cách khác, chỉ có tòa là cơ quan duy nhất có quyền tuyên bị cáo là người có tội trong bản án kết tội của mình. Trường hợp bản án không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó sẽ có hiệu lực khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp bản án có kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó sẽ được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Khi chưa có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải quan tâm, tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc đưa ra các chứng cứ, yêu cầu và tranh luận công khai, dân chủ trước Tòa án để chứng minh họ không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. Khi không đủ hoặc không thể làm sáng tỏ chứng cứ để buộc tội, khởi tố theo trình tự do BLTTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận rằng người bị buộc tội không có tội. Mọi sự nghi ngờ đối với người bị buộc tội phải được chứng minh, làm rõ. Nếu không thể chứng minh, làm sáng tỏ được căn cứ để buộc tội, kết tội thì phải kết luận họ không có tội. Tuy nhiên trên thực tế không thiếu những vụ án xuất hiện tình trạng dùng nhục hình để ép cung người bị buộc tội khiến họ phải nhận tội mặc dùng bản thân không thực hiện hành vi phạm tội…

Trong khi Điều 19 BLTTHS 2013: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” chỉ mới thừa nhận nội dung của nguyên tắc này thì Điều 13 của BLTTHS 2015 đã quy định rõ tên gọi của nguyên tắc là “Suy đoán vô tội” hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp 2013 về bảo đảm quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội và bổ sung đầy đủ nội dung của nguyên tắc này.

Có thể thấy tinh thần là thế nhưng nguyên tắc suy đoán vô tội chưa thực sự đi vào thực tiễn. Để thực hiện tốt nguyên tắc này bên cạnh việc tuân thủ pháp luật thì còn đòi hỏi bản thân các cán bộ, công chức trong ngành Tòa án phải quán triệt nguyên tắc này, minh bạch, công minh khi tiến hành mọi hoạt động điều tra, xét xử. Muốn làm được điều đó thì phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung và nguyên tắc suy đoán vô tội nói riêng. Nâng cao trình độ nghiệp vụ, khắc phục các biểu hiện vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội như: xu hướng buộc tội một chiểu, chỉ căn cứ kết luận điều tra, cáo trạng của Viện kiểm sát; xem xét phiến diện, chỉ tập trung vào khía cạnh buộc tội; luôn “thống nhất” cao giữa các cơ quan tố tụng trong mọi vụ án…

3. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội đảm bảo yêu cầu của việc chứng minh. Bản thân quá trình chứng mỉnh rất phức tạp, nếu sự chứng minh đi theo hướng suy đoán có tội thì vô tình làm quá trình tố tụng không còn mang ý nghĩa nhân đạo mà chỉ đơn thuần là kết tội và đưa ra bản án. Hơn thế nữa đi theo hướng suy đoán có tội rất dễ xảy ra án oan, oan sai.

Nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội. Rõ ràng trong quan hệ tố tụng hình sự bên bị buộc tội luôn là bên yếu thế hơn so với cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng do vậy việc đặt ra nguyên tắc này đã đem đến sự cân bằng cho hoạt động tố tụng. Khi cơ quan tố tụng không chứng minh được tội lỗi của người bị buộc tội thì buộc phải nghĩ họ vô tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đòi hỏi cao hơn từ phía cơ quan tiến hành tố tụng rằng họ không thể áp đặt ý chí của mình lên người bị buộc tội khi không chỉ ra được tội lỗi của người đó. Bên buộc tội và bên bị buộc tội hoàn toàn bình đẳng trong việc chứng minh.

Nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa. Người bị buộc tội có quyền tự chứng minh hoặc nhờ luật sư , nhờ người khác bào chữa cho bản thân mình.

Nguyên tắc suy đoán vô tội hạn chế được tình trạng ép cung, dùng nhục hình của cơ quan điều tra đối để ép người bị buộc tội nhận tội. Bởi lẽ khi không đủ chứng cứ chứng minh người bị buộc tội có tội, Tòa sẽ tuyên bị cáo vô tội và trả tự do ngay cho người bị buộc tội tránh kéo dài vụ án, trả hồ sơ nhiều lần. Nguyên tắc này cũng loại trừ định kiến, kết tội một chiều trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Dù chứng cứ thu thập trong vụ án đến đâu, dù niềm tin nội tâm của những người tiến hành tố tụng về tội phạm của người bị buộc tội thế nào thì họ vẫn có nghĩa vụ làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

4. Thời điểm áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội

Vì nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự cho nên nó phải được áp dụng trong suốt quá trình tố tụng hình sự gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

5. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc này được quy định trong:

- Điều 31 khoản 1 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

- Điều 13 BLTTHS 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.