Mặc dù suy đoán vô tội từng là một chủ đề nhạy cảm trong các cuộc tranh luận học thuật ở Trung Quốc trước đây, đặc biệt là trước khi được ghi nhận trong luật tố tụng hình sự, đã có một số tài liệu thảo luận nguyên tắc suy đoán vô tội nên được hiểu như thế nào. Suy đoán vô tội có thể được nhìn nhận từ ít nhất ba góc độ: luật tố tụng hình sự, luật chứng cứ và pháp luật về quyền con người. Việc phân tích sẽ được tiến hành từ ba góc độ này.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Tiếp cận nguyên tắc suy đoán vô tội trong bối cảnh Trung Quốc

1.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội qua lăng kính của Luật tố tụng hình sự

Giá trị cốt lõi và yêu cầu quan trọng hàng đầu của suy đoán vô tội đó là "nghi phạm không phải là tội phạm". Trước khi bị kết tội bởi toà án, bất kỳ ai cũng chỉ có thể được coi là nghi phạm hoặc bị cáo chứ không phải là tội phạm. Suy đoán vô tội thiết lập tình trạng không có tội của bị cáo, theo đó, họ được hưởng các quyền tương ứng và chịu một số nghĩa vụ nhất định. Không giống các vụ án dần sự, các bên tham gia trong tố tụng hình sự không thể về nguồn lực và khả năng. Nguyên tắc suy đoán vô tội là một cơ chế cung cấp sự bảo vệ đặc biệt đối với bị cáo vì họ không thể có vị thể ngang bằng với bên buộc tội khi họ không được coi là chủ thể vô tội. Suy đoán vô tội là bước đầu tiên của tố tụng hình sự. Việc truy tố chính là lật ngược lại suy đoán và chứng minh bị cáo có tội.

Một yêu cầu khác của suy đoán vô tội là tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền định trong các vụ án hình sự. Không có cá nhân hoặc cơ quan nào khác có thẩm quyền như vậy. Tòa án chỉ có thể tuyên án bị cáo có tội sau một phiên tòa công khai mà tại đó, bị cáo được hưởng mọi bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa. Cụ thể, những bảo đảm này bao gồm quyền được thông báo về các cáo buộc chống lại mình, quyền im lặng, quyền được tư vấn, quyền đối chất vói nhân chứng chống lại mình và quyền kháng cáo, v.v...

1.2. Nguyên tắc suy đoán vô tội thông qua lăng kính của Luật chứng cứ (Evidence Law)

Bản thân suy đoán vô tội là một nguyên tắc về chứng minh, trong đó ghi nhận trách nhiệm chứng minh tội phạm trong các vụ án hình sự. Như sự giải thích thường được trích dẫn của Wigmore, suy đoán vô tội là quyền của bị cáo được duy trì trạng thái không hoạt động và an toàn, cho đến khi công tố viên thực hiện trách nhiệm của mình và đưa ra bằng chứng và thuyết phục; nghĩa là, các nghi phạm được coi là không có tội, hay nói cách khác bên buộc tội phải chứng minh các cáo buộc của mình. Nói một cách đơn giản, theo ủy ban Nhân quyền, cơ quan gồm chuyên gia độc lập giám sát việc thực thi ICCPR, điều này có nghĩa "trách nhiệm chứng minh thuộc về bên công tố và bị cáo được hưởng lợi từ những nghi vấn không thê giải đáp".

Ủy ban cũng đồng thời công nhận quan điểm mở rộng sự suy đoán, khi nhấn mạnh rằng "suy đoán vô tội bao hàm quyền được đối xử theo nguyên tắc này “yêu cầu bằng chứng thay vì những nghi ngờ có cơ sở", chúng ta cũng có thể suy ra rằng suy đoán vô tội chứa đựng yêu cầu khắt khe về chứng cứ.

Tóm lại, nguyên tắc suy đoán vô tội kéo theo ba nguyên tắc phái sinh về chứng cứ. Đầu tiên, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên công tố, với điều kiện không thu thập chứng cứ bằng cách tra tấn hoặc bất kỳ phương tiện bất hợp pháp nào khác. Thứ hai, bên công tố phải chứng minh bị cáo phạm tội thay vì chỉ dựa trên các mối nghi ngờ có cơ sở, nếu không, bị cáo sẽ được hưởng lợi ích từ những nghi vấn không thể giải đáp (benefit of doubt), có nghĩa, bị cáo không thể bị kết tội nếu các tiêu chuẩn chứng minh tội phạm không phù hợp với vụ án. Thứ ba, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội vì nghĩa vụ này không thuộc về họ. Điều này có thể gây tranh cãi liên quan đến vấn đề nó có thể dẫn đến quyền im lặng hay không.

1.3. Nguyên tắc suy đoán vô tội qua lăng kính của Luật nhân quyền

Suy đoán vô tội là một trong những quyền cơ bản và phổ biến của bị cáo. Bản thân nguyên tắc này không trao quá nhiều quyền đối với bị cáo, nhưng các yêu cầu của nó lại bao hàm một số quyền quan trọng. Theo lập luận của một số nhà nghiên cứu, vì bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nên anh ta có quyền giữ im lặng. Nếu anh ta sẵn sàng nói, anh ta có thể thú nhận hoặc tự bảo vệ cho mình.

Mặt khác, các văn kiện quốc tế đã làm phong phú thêm ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội và ghi nhận nhiều cơ chế bảo vệ quyền với tư cách là sự bảo đảm của nguyên tắc này. Ví dụ, các nhà nghiên cứu đã từng đặt câu hỏi liệu suy đoán vô tội có thể trở thành công cụ mạnh mẽ bảo vệ bị cáo khỏi bị bắt giữ thông qua quyết định kết án cuối cùng hay chỉ đơn thuần là một nguyên tắc về chứng minh tội phạm được áp dụng tại phiên tòa. Dần dần, đã đạt sự đồng thuận rằng suy đoán vô tội không chỉ đơn thuần là một nguyên tắc về chứng minh, thậm chí còn hơn một công cụ chống lại các hình phạt trước khi bị kết án. Hiện nay, nhiều quốc gia áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, đến thời điểm kết án. Khái niệm hiểu theo nghĩa rộng hơn về suy đoán vô tội đã được công nhận trong các văn kiện quốc tế. Các nguyên tắc tối thiểu về tiêu chuẩn về quản lý tư pháp vị thành niên của Liên Hợp Quốc (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice), còn được gọi là Nguyên tắc Bắc Kinh ("The Beijing Rules") do quá trình soạn thảo được thực hiện chủ yếu tại hội nghị diễn ra ở Bắc Kinh, ghi nhận rằng nguyên tắc suy đoán vô tội được "đảm bảo trong tất cả các giai đoạn tố tụng".

Các chuẩn mực nhân quyền quốc tế đã kết nối nguyên tắc suy đoán vô tội với quyền được xét xử công bằng hoặc nguyên tắc pháp quyền. Chẳng hạn, Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã từng đưa ra giải thích như sau: "bằng cách bảo vệ quyền được xét xử công bằng và đặc biệt là quyền được suy đoán vô tội, [Điều 6] đều nhằm bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của nền pháp quyền...”. Tòa án đã đưa ra một cái nhìn bao quát về quyền này: Theo phán quyết của Tòa án, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ bị vi phạm nếu bị cáo trước đó chưa được chứng minh là phạm tội theo luật và đặc biệt là nếu bị cáo không có cơ hội thực hiện các quyền bào chữa, và như vậy, phán quyết của toà án liên quan đến bị cáo chỉ phản ánh một ý kiến cho rằng anh ta có tội. Điều này xảy ra ngay cả khi không có bất kỳ phát hiện chính thức nào; nó có đủ lý do cho thấy rằng tòa án coi bị cáo là có tội.

Tuyên ngôn Nhân quyền (UDHR 1948) cũng ghi nhận tương tự "Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp." Những bảo đảm được đề cập trong UDHR được tái khẳng định và mở rộng trong ICCPR, cụ thể công ước này ghi nhận: "Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự cố quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật" (Điều 14. 2ICCPR), đồng thời liệt kê 7 tiêu chuẩn bảo đảm tối thiểu (Điều 14.3 ICCPR) nhằm diễn giải "những bảo đảm cần thiết bảo vệ nghỉ phạm" đã nêu trong UDHR. Những bảo đảm tối thiểu này bao gồm quyền được thông báo kịp thời, quyền được đảm bảo những điều kiện thích đáng để chuẩn bị bào chữa, quyền được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý, quyền được hiện diện trong các phiên xét xử, quyền tự bào chửa và quyền được nhận tư vấn, quyền Được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, quyền có phiên dịch miễn phí, và đặc quyền chống lại việc tự buộc tội.

2. Những tranh luận xung quanh suy đoán vô tội ở Trung Quốc

Hầu hết các học giả Trung Quốc cho rằng CPL 1996 đã ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội và CPL 2012 đã củng cố thêm nguyên tắc này bằng cách làm rõ trách nhiệm chứng minh cũng như những tiêu chuẩn chứng minh và đặc quyền chống lại việc tự buộc tội. Tuy nhiên, vẫn có những quan điểm cho rằng Trung Quốc chưa thực sự xác lập nguyên tắc suy đoán vô tội. Những tranh cãi xung quanh sự suy đoán vô tội tập trung phổ biến vào quyền im lặng và các quy định về làm giàu bất chính.

2.1. Quyền im lặng (Right to Silence)

Giới học thuật Trung Quốc đã cố gắng thúc đẩy sự ghi nhận quyền im lặng từ sửa đổi CPL năm 1996. Hầu như tất cả các học giả về luật tố tụng hình sự đều ủng hộ việc bị cáo quyền giữ im lặng trong quá trình thẩm vấn cũng như tại phiên tòa, chỉ khác nhau về việc có nên áp dụng giới hạn khi thụ hưởng quyền này hay không. Một số học giả đề xuất quyền im lặng không có bất cứ giới hạn nào theo pháp luật, trong khi các học giả khác lại thận trọng hơn và đề xuất những giới hạn nhất định có thể áp đặt đối với quyền im lặng (cho phép suy luận trong một số trường hợp nhất định). Tuy nhiên, sau ba lần soạn thảo cho sửa đổi, quyền im lặng vẫn chưa được ghi nhận trong luật tố tụng hình sự của Trung Quốc. Không có gì ngạc nhiên, trở ngại chính đến từ đội ngũ cảnh sát, những người lo lắng rằng các vụ việc sẽ không thể được giải quyết nếu nghi phạm hoặc bị cáo tuyên bố thực hiện quyền im lặng trong quá trình điều tra.

Điều 93 CPL 1996, có nội dung gần như giống hoàn toàn với điều khoản tương ứng trong CPL 1979, yêu cầu nghi phạm hình sự trả lời các câu hỏi một cách trung thực, mặc dù có bổ sung rằng nghi phạm "có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào không liên quan đến vụ án". Nghĩa vụ trả lời câu hỏi này một cách trung thực được xem là mâu thuẫn với nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 12 và các điều khoản khác có liên quan đến nguyên tắc này. Tuy nhiên, sự thiếu nhất quán vẫn chưa được khắc phục trong CPL 2012, theo đó, các nghi phạm vẫn có nghĩa vụ trả lời các câu hỏi một cách trung thực. Sự thay đổi duy nhất trong CPL 2012 là sự điều chỉnh đối với chính sách hình sự "hưởng khoan hồng nếu thú nhận, chịu đựng sự hà khắc nếu phản kháng". Trước khi CPL 2012 được ban hành, các nghi phạm sẽ nhận hình phạt nhẹ nhàng hơn nếu họ thú nhận, cũng như nhận được hình phạt khắc nghiệt hơn nếu họ chống đối. Trong CPL 2012, các điều tra viên khi thẩm vấn nghi phạm hình sự, có nghĩa vụ thông báo cho nghi phạm quy định pháp luật về sự khoan hồng nếu thành khẩn khai nhận về tội phạm mình thực hiện. Một số nhà bình luận cũng cho rằng đây là một sự điều chỉnh hợp lý. Các nghi phạm có thể được khuyến khích hợp tác với cảnh sát và thậm chí được khen thưởng vì sự hợp tác này, mặt khác, nghi phạm không còn bị đe doạ phải chịu các hình phạt khắc nghiệt hơn nếu họ chọn không thú nhận.

Mặc dù quyền im lặng không được ghi nhận theo pháp luật Trung Quốc, nhưng các nghi can không buộc phải thú nhận (do bị đe doạ) theo CPL 2012. Điều 50 quy định: "không ai bị buộc phải chứng minh tội lỗi của mình". Điều khoản này được nhiều học giả Trung Quốc diễn giải là tương tự đặc quyền chống lại sự tự buộc tội. Đặc quyền này, cùng với nguyên tắc loại trừ các bằng chứng thu thập được một cách bất hợp pháp, đã trở thành công cụ bảo vệ bị cáo khỏi việc cưỡng bức phải nhận tội. Như vậy, mặc dù quyền im lặng chưa được ghi nhận, CPL 2012 đã tăng cường sự bảo vệ đối với bị cáo, đồng thời phản ánh nguyên tắc mới được bổ sung đó là "mục đích của luật pháp là tôn trọng và bảo vệ quyền con người."

Những nhà nghiên cứu cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn chưa được áp dụng ở Trung Quốc. Sử dụng quyền im lặng không được ghi nhận theo pháp luật làm lập luận chính vì theo họ, quyền im lặng là một thành phần không thể thiếu của suy đoán vô tội.

Quyền im lặng không phải là một thành phần cần thiết của suy đoán nguyên tắc vô tội, mà là một nguyên tắc phái sinh từ nó. ICCPR cũng không liệt kê quyền im lặng là một trong số các bảo đảm tối thiểu, thay vào đó, một trong số các bảo đảm đó là đặc quyền chống lại sự tự buộc tội. Do đó, có thể nói rằng Trung Quốc đã thiết lập nguyên tắc suy đoán vô tội, mặc dù còn nhiều hạn chế. Ví dụ, quyền được đối chất với nhân chứng không được bảo đảm ở Trung Quốc, lời khai từ nhân chứng sống trong các vụ án hình sự tương đối hiếm ở toà hình sự. Quyền im lặng vẫn cần được ghi nhận, nhưng sự vắng mặt tạm thời của nó không làm mất hiệu lực của nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật pháp Trung Quốc.

2.2. Quy định về làm giàu bất chính (Illicit Enrichment Provisions) và suy đoán vô tội

Một cuộc tranh luận khác liên quan đến các quy định pháp luật về làm giàu bất chính và suy đoán vô tội. Điều 395 Luật hình sự Trung Quốc quy định án phạt lên đến mười năm tù khi có "sự khác biệt lớn" giữa một tài sản hoặc chi tiêu của quan chức chính phủ và thu nhập hợp pháp của người đó mà họ không thể giải thích được rằng các tài sản đó có nguồn gốc hợp pháp. Điều 395 về cơ bản yêu cầu nghi can phải tự chính minh (tức là, tài sản có nguồn gốc hợp pháp), thay vì để công tố viên chứng minh tính bất hợp pháp của tài sản. Điều khoản này sử dụng thuật ngữ "đảo nghĩa vụ chứng minh ("reverse onus provision") để mô tả việc nghi phạm phải gánh một phần trách nhiệm chứng minh liên quan đến các tính tiết của vụ án.

Quy định đảo ngược (Reverse-onus provisions) được sử dụng phổ biến như một cơ chế để trừng phạt các quan chức tham nhũng đã từng thành công trong việc che đậy các giao dịch bất hợp pháp nhưng không giấu được thành quả đạt được từ các giao dịch đó. Mặc dù nhiều quan điểm cho rằng điều khoản này đi ngược lại các nguyên tắc về sự suy đoán vô tội cũng như quyền im lặng, tuy nhiên ngày càng nhiều quốc gia nhấn mạnh quy định này phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội trong bối cảnh của nhu cầu cấp bách về phòng chống tham nhũng. Điều này đặt ra câu hỏi liệu nguyên tắc suy đoán vô tội có ngoại lệ hay không. Nếu câu trả lời là có, việc áp dụng nguyên tắc đảo trách nhiệm trong các quy định về làm giàu bất chính có thể coi là một ngoại lệ. Vấn đề này về cơ bản ít gây chia rẽ giữa các khuynh hướng thảo luận ở Trung Quốc. Phần lớn đều thừa nhận quy định về đảo trách nhiệm chứng minh trong các quy định về làm giàu bất chính và làm suy giảm nguyên tắc suy đoán vô tội. Tuy nhiên, quy định này được coi là cần thiết để xem xét trên quy mô lớn các quan chức sử dụng vị trí của họ để thu lợi bất chính và mối liên hệ hợp lý giữa các tài sản bất tương xứng một cách đáng kể với thu nhập hợp pháp và giao dịch bất hợp pháp. Đảo trách nhiệm trong các quy định về làm giàu bất chính không gây ảnh hưởng đến vai trò trung tâm của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tư pháp hình sự Trung Quốc.

Suy đoán vô tội không chỉ là nguyên tắc về chứng minh mà trong đó phân bổ trách nhiệm chứng minh trong các vụ án hình sự, mà còn là một nguyên tắc vàng cho quy trình tố tụng hình sự, lá chắn đặc biệt cho quyền của bị cáo và bảo đảm tối thiểu cho xét xử công bằng.

Suy đoán vô tội được ghi nhận lần đầu tiên ở Trung Quốc khi sửa đổi luật tố tụng hình sự vào năm 1996. Tuy nhiên, nguyên tắc cần phải được cải thiện bằng cách áp dụng nhiều biện pháp bảo vệ quyền hơn như quyền của bị cáo được giữ im lặng. Các quy định pháp lý mâu thuẫn với nguyên tắc suy đoán vô tội cũng cần phải được bãi bỏ. Ví dụ, nghĩa vụ trả lời trung thực các câu hỏi đặt ra bởi người thẩm vấn nên bị hủy bỏ vì nó không chỉ mâu thuẫn với nguyên tắc suy đoán vô tội, mà còn có mâu thuẫn với đặc quyền chống lại sự tự buộc tội.

Do ảnh hưởng của truyền thống lâu dài, "suy đoán có tội" vẫn còn tồn tại trong thực tế. Do vậy, cần thay đổi nhận tức của đội ngũ thực hành pháp luật, đặc biệt là các sĩ quan cảnh sát. Thực hiện những khoá tập huấn thường xuyên và cải cách liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Câu hỏi thường gặp về nguyên tắc suy đoán vô tội của Trung Quốc

Câu hỏi: Suy đoán vô tội trong pháp luật Trung Quốc được tiếp cận qua những khía cạnh nào?

Trả lời:

Suy đoán vô tội có thể được nhìn nhận từ ít nhất ba góc độ: luật tố tụng hình sự, luật chứng cứ và pháp luật về quyền con người

Câu hỏi: Vì sao quyền im lặng không được ghi nhận trong Luật tố tụng hình sự Trung Quốc?

Trả lời:

Sau ba lần soạn thảo cho sửa đổi, quyền im lặng vẫn chưa được ghi nhận trong luật tố tụng hình sự của Trung Quốc. Không có gì ngạc nhiên, trở ngại chính đến từ đội ngũ cảnh sát, những người lo lắng rằng các vụ việc sẽ không thể được giải quyết nếu nghi phạm hoặc bị cáo tuyên bố thực hiện quyền im lặng trong quá trình điều tra.

Câu hỏi: Đảo nghĩa vụ chứng minh là gì?

Trả lời:

Đảo nghĩa vụ chứng minh được ghi nhận tại Điều 395 Bộ luật hình sự Trung Quốc về tội làm giàu bất chính. Theo đó, về cơ bản yêu cầu nghi can phải tự chính minh (tức là, tài sản có nguồn gốc hợp pháp), thay vì để công tố viên chứng minh tính bất hợp pháp của tài sản.