- 1. Khung pháp lý về suy đoán vô tội ở Nhật Bản
- 2. Nguyên tắc "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo"
- 3. Sự pha trộn của truyền thống Luật dân sự và Luật chung
- 4. Thực tiễn tư pháp hình sự tại Nhật Bản
- 4.1. Sự thật và sự chính xác
- 4.2. Vai trò của công tố viên
- 4.3. Trình tự công bằng như một quyền của con người
Nhằm mục đích phục vụ công tác nghiên cứu pháp luật hình sự về "Suy đoán vô tội", Luật Minh Khuê sưu tầm và biên tập gửi tới bạn đọc bài viết với nội dung "Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật và thực tiễn tư pháp ở Nhật Bản". Nội dung cụ thể được trình bày trong bài viết dưới đây:
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
1. Khung pháp lý về suy đoán vô tội ở Nhật Bản
Suy đoán vô tội là một tiêu chuẩn được công nhận trong tập quán pháp luật quốc tế. Điều này được hiểu rằng 'bất kỳ người nào bị buộc phạm một tội được coi là vô tội cho đến khi họ được chứng minh là có tội theo luật' (Faữ Trials 2019:7). Nó cũng được quy định trong một số đỉều ước quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) (Điều 14-2), Công ước về quyền trẻ em (RCR) (Điều 4ữ-2-bi), Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (Điều 11) và Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế (RSICC) (Điều 66).
Tại Nhật Bản, pháp luật điều ước quốc tế được đặt dưới Hiến pháp nhưng trên các đạo luật, các quy định hành chính, quy định địa phương, quyết định của cơ quan và các quy định pháp luật khác trong hệ thống phân cấp pháp lý của Nhật Bản (Satomi 2017:2). Hiến pháp Nhật Bản quy định rằng 'Các điều ước được ký kết bởi Nhật Bản và pháp luật của các quốc gia sẽ được tuân thủ một cách trung thực (Điều 98-2). Theo đó, các chuyên gia pháp lý Nhật Bản thường xem rằng chừng nào Nhật Bản phê chuẩn và công bố các điều ước, pháp luật quốc tế có “giá trị pháp luật trực tiếp” (Iwase 1998:28-29). Theo nghĩa này, về mặt lý thuyết, suy đoán vô tội là một phần của pháp luật Nhật Bản không chỉ với nghĩa nó là nguyên tắc của tập quán pháp luật quốc tế, mà nó có trong các điều ước mà Nhật Bản phê chuẩn, bao gồm ICCPR, CRC và RSICC.
Ngoài pháp luật quốc tế, còn có những điều khoản liên quan về suy đoán vô tội trong pháp luật Nhật Bản. Tuy nhiên, không giống như các luật điều ước đã nói ở trên, không có điều khoản nào trực tiếp nêu ra nguyên tắc "suy đoán vô tội" trong pháp luật Nhật Bản. Nói cách khác, mặc dù thuật ngữ này không xuất hiện trong bất kỳ luật nào ờ Nhật Bản, nó là một phần của các luật liên quan khi được giải thích (Kato 1997: 584; Satomi 2017: 2).
Ví dụ, nhiều học giả cho rằng Điều 31 của Hiến pháp đòi hỏi một hàm ý liên quan đến suy đoán vô tội. Nó quy định rằng 'Không ai bị tước quyền sống hay quyền tự do, cũng không bị áp dụng hình phạt hình sự nào khác, ngoại trừ theo thủ tục được quy định trong luật'. Tập quán duy trì rằng 'thủ tục được quy định trong luật' được nêu trong Điều 31 phải là một thủ tục phù hợp dựa trên luật (Kato 1997: 584). Ngoài ra, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng Hình sự thường được gọi là một điều khoản liên quan đến suy đoán vô tội. Nó tuyên bố rằng 'Khi một vụ án bị truy tố không cấu thành một tội phạm hoặc chưa được chứng minh là một tội phạm, tòa án phải đưa ra phán quyết không có tội trong bản án của mình'. Trong thực tiễn pháp luật của Nhật Bản, nguyên tắc suy đoán vô tội được chứa đựng hoặc rút ra từ việc giải thích các điều khoản hiện hành trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng Hình sự thay vì được nêu ra như một điều khoản cụ thể.
2. Nguyên tắc "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo"
"Một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo" (in dubio pro reo) là một nguyên tắc được đề cập trong các phiên tòa hình sự ở Nhật Bản (Kato 1997: 574). Ví dụ, vào năm 1975, Tòa án Tối cao Nhật Bản bày tỏ quan điểm rằng nguyên tắc "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo" là một quy tắc bất khả xâm phạm trong các phiên tòa hình sự1. Nguyên tắc này được sử dụng thay thế cho nhau với nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật học hình sự (Sakamaki 2015: 476). Tuy nhiên, việc sử dụng hai biểu thức này phụ thuộc vào nguồn của luật hoặc bộ luật: nguồn luật dân sự hoặc nguồn luật chung. Ví dụ, luật học hình sự ở Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi truyền thống luật dân sự và do đó, nguyên tắc 'một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo' thường được đề cập trong khi đó trong luật tố tụng hình sự (và cả Hiến pháp) chịu ảnh hưởng của truyền thống luật chung, nguyên tắc suy đoán vô tội thường được đề cập.
Tuy nhiên, vị trí và nghĩa của các nguyên tắc này không giống nhau. Mặc dù nguyên tắc "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo" và suy đoán vô tội thường được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng nguyên tắc "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợỉ ích của bị cáo" dựa trên quan điểm của thẩm phán trong khi suy đoán vộ tội là từ quan điểm của các bên liên quan. Trong truyền thống luật chung, trong cách hiểu về suy đoán vô tội, khái niệm "nghĩa vụ chứng minh" (burden of proof) được sử dụng. Đây cũng là trường hợp ở Nhật Bản. Nguyên tắc suy đoán vô tội thường được sử dụng nhiều hơn có nghĩa là nghĩa vụ chứng minh của các công tố viên (Satomi 2017)
Cách sử dụng này hẹp hơn so với nghĩa rộng hơn của nguyên tắc suy đoán vô tội được nhận thức chung trên thế giới.
Đặc điểm xác định của pháp luật quốc tế liên quan đến suy đoán vô tội có nội hàm rộng và coi suy đoán vô tôi như là quyền về trình tự công bằng (the right to due process), rằng “nhà nước không thể kết án ai đó về một tội phạm trừ khi và cho đến khi ngành công tố chứng minh tội của người đó trong một quy trình mang các đặc điểm xác định, bao gồm các quyền và sự bảo vệ, của một phiên tòa công bằng” (Lai Ho 2012: 266). Trên thực tế, sự suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế nhấn mạnh một “người” và “quyền” của người đó không được đối xử như một tội phạm cho đến khi được chứng minh là có tội. Các điều khoản liên quan trong ICCPR và Công ước châu Âu về quyền con người, chẳng hạn, nói rằng 'Mọi người bị buộc tội hình sự' và do đó nêu bật một 'người' hoặc bên liên quan.
3. Sự pha trộn của truyền thống Luật dân sự và Luật chung
Như được minh họa trong cách giải thích “một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của bị cáo”, thủ tục tố tụng hình sự ở Nhật Bản dường như là hệ thống đối nghịch chịu ảnh hưởng của luật chung hoặc hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cũng có những hệ thống và thủ tục duy trì các di sản của Bộ luật Tố tụng Hình sự trước đây chịu ảnh hưởng của hệ thống luật dân sự bắt nguồn từ pháp luật Đức. Ví dụ, tòa án có quyền lực riêng biệt rộng lớn như hệ thống thẩm vấn (the inquisitorial system) theo quy định tại Điều 312-2 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: “Tòa án có thể ra lệnh cho công tố viên bổ sung hoặc thay đổi tội danh và luật hình sự áp dụng khi tòa án xét thấy nó thích hợp trong quá trình tố tụng”. Mặc dù thủ tục tố tụng hình sự ở Nhật Bản thường được coi là hệ thống đối nghịch, có nhiều thủ tục được duy trì từ Bộ luật tố tụng hình sự trước đây phù hợp với hệ thống thẩm vấn.
Hệ thống pháp luật của Nhật Bản là sự pha trộn của các quan điểm Anh-Mỹ và các hệ thống của Pháp và Đức (Dean 2002: 1). Điều này là do pháp luật Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi pháp luật của Pháp và Đức sau thời kỳ Minh trị (1868-1912) trong khi sau khi Thế chiến II kết thúc, các cải cách đã được thực hiện dưới ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Trong lĩnh vực pháp luật, Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự và luật gia đình hoặc luật điều chỉnh các quyền trong gia đình đã được cải cách sau Thế chiến II và do đó chịu ảnh hưởng của pháp luật Hoa Kỳ (truyền thống luật chung). Mặt khác, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và Bộ luật Hình sự vẫn chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Đức và Pháp (truyền thống luật dân sự) ngay cả sau Thế chiến II. Theo đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự trước đây (1922) chịu ảnh hưởng của pháp luật Đức trong khi Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành (1949) chịu ảnh hưởng của pháp luật Hoa Kỳ. Vì lý do đó, sự pha trộn về nhận thức và thực tiễn của luật chung và luật dân sự được ghi nhận trong các lĩnh vực khác nhau của tố tụng. Cụ thể, việc thực hành các vụ án hình sự thường vẫn bị ảnh hưởng bởi truyền thống luật dân sự trong khi Bộ luật Tố tụng Hình sự dựa trên truyền thống luật chung.
Quan điểm về "một điểm nghi ngờ cần được giải thích vì lợi ích của chính bị cáo" không phải là quan điểm ban đầu của người Nhật mà được mang từ nước ngoài (Kato 1997: 577). Mặc dù không biết chính xác khi nào quan điểm được công nhận ở Nhật Bản, nhưng ít nhất trong một cuốn sách giáo khoa xuất bản năm 1924 đã đề cập đến quan điểm này (Kato 1997: 577). Do đó, người ta cho rằng quan điểm này đã được đưa vào các vụ án hình sự trước Thế chiến II.
4. Thực tiễn tư pháp hình sự tại Nhật Bản
Có một số đặc điểm của tư pháp hình sự của Nhật Bản mà chúng ta có thể rút ra từ mặt kia của hệ thống đó. Ví dụ, trong khi tỷ lệ kết án ở Nhật Bản cao, tỷ lệ phạt tù vẫn thấp. Mặc dù tỷ lệ giam giữ bình quân đầu người đã tăng lên kể từ năm 1992, nhưng tù nhân chỉ có một người trên hai mươi lăm tù nhân ở Hoa Kỳ (Johnson 2007: 343). Tỷ lệ tội phạm thấp nhất của Nhật Bản trong các nền dân chủ công nghiệp hóa không thể hiểu được mà không hiểu mục đích cơ bản và đặc điểm chính của tư pháp hình sự.
4.1. Sự thật và sự chính xác
Có thực tiễn tiền xét xử định hướng thú tội trong hệ thống tư pháp hình sự Nhật Bản. Trọng tâm tiền xét xử của hệ thống tư pháp hình sự Nhật Bản là tìm ra sự thật thực sự. Điều này trái ngược với các quốc gia nhấn mạnh công lý tố tụng cho những người bị buộc tội như Mỹ. Sự thật thực sự trong các vụ án hình sự là về "ai đã phạm tội và tại sao". Nguồn thông tin thường là bị cáo. Cơ bản là, sự thật của một vụ án được xác định bởi cảnh sát và các công tố viên thông qua điều tra và thẩm vấn. Cảnh sát và các công tố viên, do đó, sử dụng thẩm vấn trước khi xét xử để thu thập thông tin để truy tố. Các thẩm phán đưa ra kết luận cuối cùng về sự việc (the final findings of fact) tại phiên tòa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, phiên tòa không được tổ chức vì các công tố viên không tìm thấy cơ sở cho cáo trạng.
Thủ tục tố tụng hình sự của Nhật Bản bao gồm ba đặc điểm về tiền thẩm vấn sau đây:
1) Áp dụng nghĩa vụ nộp đơn để thẩm vấn bị cáo bị bắt hoặc giam giữ;
2) Loại trừ luật sư bào chữa trong khi thẩm vấn;
3) Công tố chỉ định thời gian, thời lượng, và địa điểm của một cuộc gặp giữa bị cáo và luật sư của mình (DeSombre 1995:109).
Sau tiền thẩm vấn bị cáo, các công tố viên quyết định họ có truy tố bị cáo hay không dựa trên các bằng chứng thu thập được. Do đó, không có thủ tục biện hộ tiền xét xử tại tòa (arraignment procedure) trong đó bị cáo có thể nhận tội hay không. Được biết, các công tố viên có toàn quyền quyết định đối với các quyết định truy tố tại Nhật Bản. Công tố viên có thể xem xét tính cách, tuổi tác và môi trường của người bị buộc tội, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các hoàn cảnh hoặc tình huống sau khi phạm tội hoặc không cần thiết phải truy tố (Điều 248 của Bộ luật Tố tụng Hình sự). Theo đó, ngay cả khi bị cáo thú nhận tội, công tố viên có thể không truy tố theo quyết định của mình. Theo nghĩa đó, các công tố viên Nhật Bản đang ở một vị trí thuận lợi để có được sự thú tội vì họ có thể đưa ra một hình thức khoan hồng ít quyết liệt hơn để đổi lấy một lời thú tội hoặc thông tin hữu ích khác.
Mặc dù hệ thống tư pháp hình sự Nhật Bản nhấn mạnh việc tìm kiếm sự thật và sự chính xác hoặc công lý thực sự, việc mặc cả bị cáo để thú tội tạo ra sự nghi ngờ về tính trung thực của lời thú tội vì lời hứa khoan hồng đã dụ dỗ một bị cáo vô tội thú tội về một tội phạm mà người đó không phạm phải. Tương tự như vậy, một bị cáo đã phạm tội chỉ cung cấp một nửa sự thật cho phù hợp với tội danh mà anh ta mặc cả. Trong những trường hợp như vậy, sự thật và sự chính xác rõ ràng là không được xác định. Các công tố viên có thể thương lượng với bị cáo để có được các lời thú tội đặc biệt trong các trường hợp điều tra tội phạm có tổ chức hoặc đồng phạm.
4.2. Vai trò của công tố viên
Như đã trình bày trong phần trước, các công tố viên đóng vai trò nòng cốt trong từng giai đoạn của tư pháp hình sự. Có sáu giai đoạn quan trọng, trong đó các công tố viên đóng vai trò quan trọng:
1) khởi tố vụ án
2) chuyển vụ án cho các công tố viên
3) tạm giam và thẩm vấn trước khi truy tố
4) quyết định buộc tội
5) hai loại truy tố - truy tố tóm tắt và truy tố chính thức
6) phiên tòa một giai đoạn.
Đặc điểm chính của các công tố viên Nhật Bản là họ tiến hành điều tra và thẩm vấn trước khi xét xử. Họ có độc quyền xử lý các vụ án bằng cách đưa ra các quyết định buộc tội, trình bày vụ kiện tại phiên tòa và giám sát việc thi hành án.
Như được liệt kê, các công tố viên có phạm vi thẩm quyền rộng hơn so với các hệ thống tư pháp hình sự khác. Đồng thời, họ có sự phụ thuộc sâu sắc lẫn nhau với cảnh sát và thẩm phán. Tỷ lệ kết án cao ở Nhật Bản được cho là sự phản ánh một hệ thống thiên vị xấu đối vớỉ các bị cáo. Tuy nhiên, hạn chế tha bổng là chức năng của chính sách truy tố bảo thủ của ngành công tố. Sự thú tội theo nhiều cách là nền tảng của công lý hình sự Nhật Bản và nó có cơ sở nhưng một số lời thú tội có được theo những cách không phù hợp. Các cuộc điều tra thường xâm phạm và đôi khi bị ép buộc trong khi sự thật bị hủy hoại, che giấu và thậm chí bịa đặt. Các công tố viên có xu hướng không chịu trách nhiệm. Vì tỷ lệ kết án, các nạn nhân thường phải hy sinh. Ở cấp độ cơ bản, hệ thống rất kín trước sự giám sát bên ngoài và do đó rất khó để xác định các vấn đề.
4.3. Trình tự công bằng như một quyền của con người
Vì Hiến pháp Nhật Bản được soạn thảo dưới lực lượng chiếm đóng do Hoa Kỳ lãnh đạo, các quy tắc pháp lý nền tảng trong Hiến pháp Nhật Bản không quá khác biệt so với các quy tắc ở Hoa Kỳ. Hiến pháp Nhật Bản bảo đảm nghi phạm hình sự có quyền không tự buộc tội (Điều 38) và quyền có luật sư (Điều 34) và quy định loại trừ nhận tội bị ép buộc (Điều 38). Bộ luật Tố tụng Hình sự cho phép nghi phạm hoặc bị cáo có quyền gặp luật sư của mình trong trường hợp không có người bảo hộ (Điều 39-1). Đáng chú ý là Hiến pháp Nhật Bản quy định các quyền cụ thể trước khi xét xử của nghi phạm và bị cáo, cũng như quyền được tư vấn (right to counsel) của nghi phạm cùng với các điều khoản liên quan đến việc thú nhận bị ép buộc.
Hiến pháp Nhật Bản có các quy tắc khá sâu sắc về tố tụng hình sự để bảo vệ quyền con người. Trong số 103 điều trong Hiến pháp, có 31 điều (Điều 10-40 trong Chương HI) là về quyền con người và các vấn đề liên quan. Trong số 31 điều, 10 điều, từ Điều 31 đến Điều 40, là về các vấn đề liên quan đến thủ tục tố tụng hình sự. Như một nguyên tắc cơ bản nhất của trình tự công bằng, đó là Điều 31 của Hiến pháp.
Yêu cầu của trình tự công bằng được quy định tại Điều 31 được cho là bắt nguồn từ Hiến pháp Hoa Kỳ. Do đó, một nguyên tắc quan trọng trong Hiến pháp Nhật Bản là bảo vệ các bị cáo trong tố tụng hình sự (DeSombre 1995:138). Tuy nhiên, một học giả chỉ ra rằng sự bảo đảm công lý tố tụng được phản ánh trong Hiến pháp Nhật Bản từ Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là bảo vệ bị cáo - bảo đảm quyền chống lại sự tự buộc tội, quyền về trình tự công bằng và quyền được tư vấn - đã được sửa đổi thông qua giải thích lập pháp và tư pháp và cũng như thông qua thực tiễn công tố và cảnh sát (DeSombre 1995:138).
Điều 12 thường được các thẩm phán và công tố viên ở Nhật Bản nhắc đến. Nó quy định rằng “Các quyền và tự do được bảo đảm cho người dân theo Hiến pháp này sẽ được duy trì bởi nỗ lực không ngừng của người dân, những người sẽ không kiềm chế trước bất kỳ sự lạm dụng nào đối với các quyền này và luôn có trách nhiệm sử dụng chúng vì phúc lợi công cộng”. Thực tiễn tiền xét xử mà hạn chế các quyền của bị cáo được giải thích liên quan đến Điều 12 với sự nhấn mạnh vào “phúc lợi công cộng”. Điều này là do quan điểm rằng trừng phạt người có tội góp phần bảo vệ phúc lợỉ công cộng. Trong khi nhiều người Nhật không chấp nhận lời thú tội bị ép buộc, họ ủng hộ tầm quan trọng của việc thú tội trong điều tra tội phạm. Theo đó, trong khi trình tự công bằng được quy định trong Hiến pháp Nhật Bản là một phần của quyền con người, thì nó luôn liên quan đến “phúc lợi công cộng”. Theo nghĩa đó, công lý thủ tục bị làm suy yếu thông qua việc giải thích và thực hành Hiến pháp.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật và thực tiễn tư pháp ở Nhật Bản". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập