Chào luật sư, tôi tên là Dương, hiện tại đang sinh sống và làm việc tại Bắc Giang. Để phục vụ công việc tôi có tìm hiểu về nguyên tắc suy đoán vô tội trong quy định của pháp luật Việt Nam. Mong được luật sư giải đáp giúp tôi cụ thể về nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội ở nước ta hiện nay là gì? Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Dương (Bắc Giang)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Khái quát về nguyên tắc suy đoán vô tội ở Việt Nam

>> Xem thêm:  Các bộ phận giúp việc cho tòa án Liên bang Hoa Kỳ ?

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế như: Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền nưm 1948, Công ước quốc tế năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị; Quy chế Rome năm 1998 về Tòa án hình sự quốc tế... và trong Luật tố tụng hình sự phần lớn các quốc gia trên thế giới. Nguyên tắc suy đoán vô tội là kết quả của cuộc đấu tranh không khoan nhượng của nhân dân, của dân chủ chống lại nền độc tài phong kiến và được xem như là giá trị tinh thần của nhân loại hiện diện trong pháp luật của thế giới văn minh.

Theo cách hiểu thông thường và quy định của các điều ước quốc tế cũng như pháp luật tố tụng hình sự quốc gia thì nguyên tắc suy đoán vô tội thường sẽ bao gồm những vấn đề sau:

- Một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của tòa án, do đó người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội trong suốt quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án;

- Việc chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh nhưng có quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu chứng minh sự vô tội hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ;

- Quá trình chứng minh phải được tiến hành công khai, minh bạch theo đúng quy định của luật tố tụng hình sự;

- Mọi sự nghi ngờ phải được loại bỏ khi kết tội một người;

- Mọi sự không rõ ràng về căn cứ buộc tội và quy định của pháp luật phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội...

Với những nội dung nêu trên thì suy đoán vô tội được coi là nguyên tắc nền tảng trong tư pháp hình sự, nó chi phối, ảnh hưởng tới các nguyên tắc cơ bản khác của luật tố tụng hình sự và quyết định tính khách quan, công bằng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nói cách khác, nếu không có sự hiện diện của nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ không có tố tụng hình sự dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã đề ra.

Sự hiện diện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự thể hiện nền tư pháp văn minh, dân chủ, công bằng hướng tới bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, do đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến, Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 31) đã ghi nhận quyền được suy đoán vô tội: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Trên cơ sở này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội định hướng cho việc xây dựng và thực thực thi pháp luật tố tụng hình ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

3. Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

>> Xem thêm:  Lịch sử phát triển của các tòa án bang và hỗ trợ hành chính, nhân sự trong hệ thống tư pháp các bang của Hoa Kỳ ?

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 lần đầu tiên quy định nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định:

"Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội."

Những nội dung của nguyên tắc này khá tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế, nhất là trong các Điều ước quốc tế về quyền con người, do đó có thể khẳng định chúng ta đã nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia về quyền con người, là bước phát triển trong quan niệm, cách tiếp cận về quyền con người trên tinh thần Hiến Pháp năm 2013.

Trên cơ sở tiếp cận quyền con người của Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội với đầy đủ các nội dung được pháp luật quốc tế ghi nhận, phản ánh xu thế phát triển tất yếu của thời đại ngày nay. Nhận xét về nguyên tắc này, PGS.TS Nguyễn Hòa Bình viết: "Suy đoán vô tội là nguyên tắc quan trọng, có tính chất nền tảng, chi phối nhiều nguyên tắc khác của tố tụng hình sự".

Trên sở tiếp cận tổng thể căn cứ vào các học thuyết và quy định của pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm những nội dung sau:

3.1. Nội dung thứ nhất

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Đây là nội dung quan trọng của nguyên tắc suy đoán vô tội, nó khẳng định chỉ có tòa án mới có quyền tuyên bố một người nào đó là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt đối với họ mà không một ai hoặc cơ quan nào có quyền này dù đó là cơ quan điều tra hay cơ quan công tố. Trong thời đại ngày nay khi đề cập đến nội dung này có lẽ mọi người đều cho rằng đó là lẽ đương nhiên, không cần phải tranh luận, nhưng các đây vài trăm năm nó lại là điều cấm kỵ không được bàn luận dưới nhà nước phong kiến khi quyền lực tập trung trong tay nhà vua. Chỉ khi xuất hiện học thuyết phân quyền và nhà nước tư sản ra đời mới có sự phân biệt rạch ròi giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó đại diện cho quyền tư pháp là tòa án với chức năng xét xử, phán quyết một người có tội và phải chịu hình phạt hay không. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đã khẳng định nguyên tắc này "Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc". Đây có lẽ là sự thể hiện đầu tiên trong văn bản pháp lý về một tư tưởng tiến bộ của nhân loại, khẳng định tất yếu lịch sử không thể đảo ngược của văn minh nhân loại, đồng thời nó gây ra phản ứng dây truyền cho sự ghi nhận nguyên tắc này trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế. Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948 qui định: "Bất kỳ người nào bị buộc tội đều được coi là vô tội cho đến khi một tòa án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những bảo đảm cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở pháp luật". Trên tinh thần đó Điều 14.2 Công ước về các quyền dần sự, chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc qui định: "Người bị buộc là tội phạm hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của đó được chứng minh theo pháp luật".

Khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên bố một người là phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ đã đưa đến nhận thức và hành động mới mẻ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đó là sự khách quan trong quá trình thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm cũng như việc đối xử công bằng với người bị tình nghi phạm tội, nhất là trong việc áp dụng biện pháp bắt giữ, tạm giam và các biện pháp cưỡng chế khác. Nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được đối xử vói người bị tình nghi, người bị cáo buộc phạm tội như người phạm tội, không được định kiến, thiên lệch khi giải quyết vụ án, không được coi người bị tình nghi, bị cáo buộc phạm tội là tội phạm dưới bất kỳ biểu hiện nào, mọi quyền con người của họ phải được tôn trọng ngay cả khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam, họ chỉ bị hạn chế một phần quyền tự do thân thể trong giới hạn pháp luật quy định còn các quyền con người khác vẫn phải được tôn trọng.

Bản án kết tội của tòa án phải có hiệu lực pháp luật thì một người mới bị coi là tội phạm và hình phạt áp dụng đối với họ mới được thi hành. Do vậy, vào thời điểm bản án kết tội chưa có hiệu lực pháp luật thì người bị kết tội vẫn chưa bị coi là người có tội.

Ngoài ra, nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 còn chứa đựng khía cạnh pháp lý quan trọng khác, đó là, một người chỉ bị kết tội và bị áp dụng hình phạt thông qua thủ tục tố tụng hình sự khách quan, công bằng. Theo quy định này thì việc kết tội một người không qua thủ tục chứng minh của tố tụng hình sự hoặc có bất kỳ sự vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình chứng minh của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều không có giá trị buộc tội. Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số một cho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy bức tùy tiện. Khác với chế tài áp dụng cho các vi phạm pháp luật khác, khi áp dụng chế tài hình sự nhất thiết phải được áp dụng thông qua thủ tục tố tụng tòa án. Tuy nhiên, không phải mọi thủ tục tố tụng hình sự đều cũng đáp ứng được yêu cầu về tính khách quan, công bằng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đã từng có những thủ tục tố tụng hình sự độc đoán, phản khoa học, bất bình đẳng tồn tại trong lịch sử xã hội loài người. Ngày nay, một thủ tục tố tụng hình sự được coi là khách quan, công bằng khi thủ tục tố tụng hình sự đó có sự tranh tụng giữa bên buộc tội và người bị buộc tội một cách bình đẳng trong suốt quá trình giải quyết vụ án; Là sự tiến hành tố tụng một cách vô tư của những người tiến hành tố tụng; là sự phán xử của một tòa án độc lập không chịu bất kỳ một áp lực nào khi xem xét và phán quyết vụ án; Là một thủ tục tố tụng chặt chẽ không có kẽ hở để có thể lợi dụng làm sai lệch bản chất vụ án...Nói tóm lại, bản án phải là kết quả phản ánh quá trình tố tụng hình sự dân chủ, khách quan, công bằng không làm oan người vô tội, bảo đảm cho phán quyết của tòa án đúng đắn. Bản án kết tội của tòa án không được dựa trên những căn cứ giả định mà phải khẳng định đứt khoát một người đã phạm tội và có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội này và bản án phải bảo đảm tính hợp pháp, tính có căn cứ và công bằng.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được đánh giá có sự thay đổi mang tính đột phá, là bước ngoặt về thủ tục tố tụng hướng tói khách quan, công bằng trong quá trình giải quyết vụ án với các quy định như: Bình đẳng trước pháp luật, tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, xác định sự thật khách quan của vụ án, đổi mới quy định về chứng cứ và chứng minh, luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt, kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong tố tụng hình sự... Do đó, đã " tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn; xác định đầy đủ cơ sở để quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được chính xác, kịp thời", bảo đảm để việc chứng minh tội phạm khách quan, chặt chẽ, rõ ràng, minh bạch của nguyên tắc suy đoán vô tội trở nên hiện thực trong quá trình giải quyết vụ án. Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định." Như vậy, Luật tố tụng hình sự đã nghiêm cấm mọi vi phạm về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, đồng thời cũng khẳng định khi có vi phạm thì việc chứng minh sẽ không có giá trị buộc tội đối với người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án.

>> Xem thêm:  Cơ cấu tổ chức của Tòa án các bang ở Hoa Kỳ ?

3.2. Nội dung thứ hai

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh nhưng có quyền đưa ra chứng cứ và các yêu cầu chứng minh họ không phạm tội hoặc có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bản chất của nguyên tắc suy đoán vô tội còn được thể hiện ở nội dung thứ hai với quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội (cơ quan công tố hoặc tư tố) mà ở nước ta chỉ là những cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động đỉều tra do pháp luật nước ta không qui định tư tố. Đây cũng là nội dung mang tính tất yếu của " suy đoán vô tội", bởi khi muốn buộc tội một người thì bên buộc phải chứng minh khẳng định sự phạm tội của họ, bên bị buộc tội không thể và hoàn toàn không có nghĩa vụ chứng minh sự phạm tội của mình. Do đó pháp luật tố tụng hình sự quy định người bị buộc tội không có trách nhiệm chứng minh tội phạm và không có trách nhiệm phải đưa ra các chứng cứ có tính chất buộc tội đối với mình đã phản ánh đúng quy luật khách quan phù hợp với tâm lý, tình cảm con người.

Mặc dù pháp luật tố tụng quy định người bị cáo buộc phạm tội không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhưng điều đó không có nghĩa là người bị cáo buộc phạm tội rơi vào thế bị động trong quá trình giải quyết vụ án mà trái lại họ có quyền trực tiếp hoặc với sự hỗ trợ của người bào chữa thu thập chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc chứng minh cho các tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mình. Bên cạnh đó luật tố tụng hình sự còn quy định người bị cáo buộc phạm tội có quyền đưa ra các yêu cầu đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh giải quyết vụ án để làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án, đến việc buộc tội đối với mình. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm xem xét, giải quyết những yêu cầu đó theo qui định của pháp luật, không được từ chối, bác bỏ các yêu cầu của người bị cáo buộc phạm tội nếu không có lý do chính đáng và căn cứ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, người bị cáo buộc phạm tội cũng có quyền tự mình hoặc nhờ và cùng với người bào chữa đưa ra lý lẽ tranh luận với bên buộc tội về tất cả các các vấn đề, các tình tiết liên quan đến vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định nội dung này, tuy nhiên, nó lại để thành một nguyên tắc độc lập với tên gọi nguyên tắc " Xác định sự thật của vụ án" (Điều 15) chứ không phải là một bộ phận của Điều 13 khi quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội.

Việc khác biệt này chỉ là kỹ thuật lập pháp mà không ảnh hưởng gì đến nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:"Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạm của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội". Với quy định này hai yếu tố quan trọng đã được khẳng định:

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm bao gồm cả việc chứng minh có tội và không có tội thuộc về các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Người bị tình nghi, cáo buộc phạm tội không có nghĩa vụ nhưng có quyền chứng minh sự vô tội và chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mình.

Hai yếu tố này này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất nên mọi nhận thức có tính chất chia cắt sẽ không đúng với tinh thần của nguyên tắc này. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định các quyền chứng minh sự vô tội và chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị cáo buộc phạm tội tại các điều từ 51 đến 67, đặc biệt là quy định về quyền bào chữa của họ: "Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này." (Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

3.3. Nội dung thứ ba

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội

Nội dung này khẳng định chân lý khách quan thể hiện bản chất cốt lõi của nguyên tắc suy đoán vô tội "Tội không được chứng minh, đồng nghĩa với sự vô tội được chứng minh".

>> Xem thêm:  Bức cung là gì ? Khái niệm bức cung được hiểu như thế nào ?

Nội dung này của nguyên tắc suy đoán vô tội nhấn mạnh đến các khía cạnh sau:

- Việc buộc tội một người phải có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của họ và những chứng cứ này phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định;

- Nếu không thu thập đủ chứng cứ để buộc tội một cách thuyết phục thì không thể kết tội đối với người bị cáo buộc phạm tội.

Tội phạm bao giờ cũng để lại những dấu vết bên ngoài thế giới khách quan và nó được thu thập, củng cố theo theo thủ tục pháp luật để làm căn cứ chứng minh tội phạm, căn cứ buộc tội cho nên chứng cứ bao giờ cũng đòi hỏi phải thỏa mãn các thuộc tính khách quan và chủ quan. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, khi không đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của người bị cáo buộc phạm tội thì không thể kết tội họ, mọi nghi ngờ về tội phạm của người bị tình nghi, bị cáo buộc phạm tội nếu không được loại trừ theo trình tự thủ tục pháp luật qui định thì phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi phạm tội;

- Khi đã không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Đây là hệ quả pháp lý và cũng là trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi không đủ căn cứ kết tội thì buộc phải tuyên không có tội đối vói người bị cáo buộc phạm tội.

4. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

Việc xuất hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng mang nhiều ý nghĩa.

Trước hết, nó củng cố và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của công dân trong nhà nước pháp quyền, đồng thời bảo đảm an toàn pháp lý cho mỗi cá nhân trong quan hệ với nhà nước và xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối vói việc bảo vệ quyền con người, bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nói cách khác, suy đoán vô tội là quyền con người của người bị cáo buộc phạm tội mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án; đồng thời cũng là cơ sở pháp lý để ngưòi bị cáo buộc phạm tội bảo vệ các quyền của mình trước các cơ quan có thẩm quyền quyền tiến hành tố tụng.

Thứ hai, là nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự nên suy đoán vô tội trở thành phương châm, định hướng cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự mà tất cả mọi chủ thể của tố tụng hình sự phải tuân theo. Mọi hành vi trái với quy định của pháp luật về nguyên tắc suy đoán vô tội đều bị coi là vi phạm và phải bị xử lý.

Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội là một bảo đảm pháp lý để ràng buộc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải khách quan trong quá trình chứng minh tội phạm và đồng thời nó cũng là định hướng để đi đến sự thật khách quan của vụ án;

>> Xem thêm:  Hoạt động nhận thức, vai trò của nhận thức và thiết kế trong giai đoạn điều tra ?

Thứ tư, nguyên tắc suy đoán vô tội bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Việc chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình phức tạp để xác định sự thật khách quan vụ án mà thực chất là chứng minh cho hai giả thiết: người bị tình nghi phạm tội hoặc có, hoặc không thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, một người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử rất có thể họ sẽ không phải là người thực hiện tội phạm nên không có lý do gì mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã coi họ là tội phạm ở giai đoạn này. Để bảo đảm tính khách quan của vụ án cần đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải vô tư khi tiến hành tố tụng, nếu có định kiến người bị tình nghi chính là người phạm tội thì việc giải quyết vụ án sẽ không khách quan dẫn đến làm oan người vô tội, xâm phạm quyền con người.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Hối lộ là gì? Khái niệm hối lộ được hiểu như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về suy đoán vô tội

Câu hỏi: Nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa gì?

Trả lời:

- Củng cố và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của công dân trong nhà nước pháp quyền

- Là phương châm, định hướng cho toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự mà tất cả mọi chủ thể của tố tụng hình sự phải tuân theo

- Bảo đảm pháp lý để ràng buộc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải khách quan trong quá trình chứng minh tội phạm và đồng thời nó cũng là định hướng để đi đến sự thật khách quan của vụ án

- Bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án

Câu hỏi: Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là gì?

Trả lời:

- Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh nhưng có quyền đưa ra chứng cứ và các yêu cầu chứng minh họ không phạm tội hoặc có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội

Câu hỏi: Người bị cáo buộc có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội của mình không?

Trả lời:

Người bị tình nghi, cáo buộc phạm tội không có nghĩa vụ nhưng có quyền chứng minh sự vô tội và chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với mình.