I. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp


Khi giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các nước thành viên của WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nhất như không phân biệt đối xử; nguyên tắc công khai và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh,... Đây là những nguyên tắc chung nhất. Bên cạnh đó, cần phải tuân thủ những nguyên tắc cụ thể sau đây:
- Thứ nhất, nguyên tắc bình đẳng giữa các nước thành viên tranh chấp. Bình đẳng trong nguyên tắc này được thể hiện qua việc các nước thành viên dù là nước lớn hay nhỏ, phát triển hay chậm phát triển đều bình đẳng như nhau trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh. 

- Thứ hai, nguyên tắc bí mật. Bí mật ở đây được hiểu là các cuộc họp của Ban hội thẩm, của Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công khai, các bên tranh chấp chỉ được mời tham dự khi cần thiết. 
- Thứ ba, nguyên tắc đồng thuận phủ quyết . Việc thành lập Ban hội thẩm trong giải quyết tranh chấp, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm đều dựa trên nguyên tắc đồng thuận phủ quyết – trong mọi trường hợp, Ban hội thẩm sẽ được thành lập để giải quyết mọi tranh chấp và các báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm sẽ được thông qua trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Ban hội thẩm hay không thông qua các báo cáo này. Nguyên tắc này còn có thể gọi là nguyên tắc đồng thuận nghịch

- Thứ tư, nguyên tắc đối xử ưu đãi đối với các nước thành viên đang phát triển và chậm phát triển nhất. Đây là nguyên tắc mà Ban thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước đang phát triển và chậm phát triển nhất có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các nước này sẽ được chú ý tới trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp.

II. Trình tự, thủ tục giải quyết trah chấp trong khuôn khổ WTO

1. Tham vấn (Consultation)


+ Tham vấn là giai đoạn đầu tiên và là giai đoạn bắt buộc trong trình tự giải quyết tranh chấp tại WTO. Trong giai đoạn này, các bên thảo luận về vấn đề tranh chấp và tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng (khoản 5 Điều 4 DSU).
+ Khi có tranh chấp nảy sinh, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại và đề nghị hai bên cùng tham vấn để tìm ra cách giải quyết thỏa đang. Yêu cầu về tham vấn cần phải được thông báo cho DSB và các Hội đồng và Ủy ban liên quan của WTO. Nếu có nước thứ ba nào quan tâm thì cũng có thể yêu cầu tham gia tham vấn. Bất kỳ lúc nào các bên tranh chấp cũng có thể vận dụng trung gian, hòa giải để giải quyết tranh chấp.
+Theo khoản 3 Điều 4 của DSU, trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên được yêu cầu tham vấn phải: Trong vòng 10 ngày phải trả lời yêu cầu tham vấn, và trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn hoặc trong khoảng thời gian do các bên thoả thuận phải tiến hành tham vấn, nếu chấp nhận tham vấn. Nếu bên được yêu cầu tham vấn không tuân thủ bất cứ thời hạn nào nói trên, nguyên đơn có thể ngay lập tức yêu cầu DSB thành lập Ban hội thẩm. Trường hợp đặc biệt, hàng hóa có nguy cơ hư hỏng hay đang đi đường thì bên tham vấn phải trả lời trong vòng 10 ngày và sau 20 ngày nếu không thể giải quyết thì bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập ban hội thẩm.
+ Ngoài ra, nguyên đơn cũng có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm, nếu trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, các bên không đưa ra được một giải pháp phù hợp cho việc tham vấn; hoặc nếu các bên tham
vấn đều cho rằng việc tham vấn không thể giải quyết được tranh chấp, dù thời hạn 60 ngày chưa kết thúc (khoản 7 Điều 4 của DSU). Trong trường hợp khẩn cấp, các thời hạn trên có thể được rút ngắn theo khoản 8 Điều 4 của DSU. 
Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn qui định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động). Tương tự như vậy, các thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. DSU không xác định bên nào (nguyên đơn hay bị đơn) có quyền yêu cầu chấm dứt nên có thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt các thủ tục này.
Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm (Điều 5 DSU). 

Đây là phương thức được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng (Điều 3.7 DSU)
 

2.Giai đoạn hội thẩm


Nếu quá trình tham vấn thất bại, trung gian và hòa giải (nếu có) cũng không thành công thì nước khiếu nại có thể yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) cho thành lập ban hội thẩm. Ban hội thầm có trách nhiệm đánh giá, thẩm định một cách khách quan vấn đề mà nước khiếu nại đưa ra và tập hợp kết quả nghiên cứu của mình để trình lên DSB.
- Thành lập Ban hội thẩm (Panel Establishment):
+ Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn (Điều 6 DSU). Tuy nhiên, việc yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa ra trước thời hạn này nếu các bên tranh chấp đều thống nhất rằng các thủ tục tham vấn, hoà giải không dẫn đến kết quả gì.
+ Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện. Yêu cầu này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm. 
+ Nếu không được các bên thống nhất được thành viên của Ban hội thẩm trong vòng 20 ngày kể từ khi có quyết định thành lập sẽ do Tổng Giám đốc WTO chỉ định trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực luật, chính sách thương mại quốc tế. Trong trường hợp có nhiều nước cùng yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xem xét cùng một vấn đề  thì DSB có thể xem xét thành lập một Ban hội thẩm duy nhất. Nếu vẫn phải thành lập các Ban hội thẩm riêng rẽ trong trường hợp này thì các Ban hội thẩm này có thể có chung các thành viên và thời gian biểu sẽ được xác định một cách hài hoà để các thành viên này hoạt động một cách hiệu quả nhất.
+ Bất kỳ quốc gia thành viên nào có quyền lợi thực chất trong vấn đề tranh chấp đều có thể thông báo cho DSB về ý định tham gia vụ việc với tư cách là Bên thứ ba. Các Bên thứ ba này được tạo điều kiện để trình bày ý kiến bằng văn bản trước Ban hội thẩm.

* Hoạt động của Ban hội thẩm (Panel Procedures):
+ Hoạt động của Ban hội thầm được quy định tại điều 12 DSU.

Ban hội thẩm, sau khi tham khảo ý kiến của các Bên liên quan sẽ ấn định một thời gian biểu cụ thể cho phiên xét xử đầu tiên (các Bên trình bày các văn bản giải trình tình tiết vụ việc và các lập luận liên quan), phiên xét xử thứ hai (đại diện và luật sư của các Bên lần lượt trình bày ý kiến và trả lời các câu hỏi của Ban hội thẩm – oral hearings).
+ Sau phiên xét xử thứ hai, Ban hội thẩm soạn thảo và chuyển đến các bên phần Tóm tắt nội dung tranh chấp của báo cáo để họ cho ý kiến trong một thời hạn nhất định. Trên cơ sở các ý kiến này, Ban hội thẩm đưa ra Báo cáo tạm thời (mô tả vụ việc, các lập luận, kết luận của Ban hội thẩm). Các Bên cho ý kiến về Báo cáo này. Nếu có yêu cầu, Ban hội thẩm có thể tổ chức thêm một phiên họp bổ sung để xem xét lại tổng thể các vấn đề liên quan.
+ Sau đó Ban hội thẩm soạn thảo Báo cáo chính thức để gửi đến tất cả cácthành viên WTO và chuyển cho DSB thông qua. Trong quá trình xem xét vụ việc, Ban hội thẩm có thể tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc thành lập nhóm chuyên gia để tư vấn cho Ban về các vấn đề kỹ thuật hoặc môi trường.
+ Các phiên họp thảo luận và tài liệu lưu hành trong quá trình hoạt động của Ban hội thẩm phải được giữ bí mật nhằm đảm bảo tính khách quan, độc lập của Ban. Tuy nhiên một Bên tranh chấp có quyền công khai các tài liệu mà mình đã cung cấp cho Ban hội thẩm.
+ Khác với cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT, DSU có qui định hết sức chặt chẽ về các thời hạn cho hoạt động của Ban hội thẩm nhằm mục tiêu giải quyết nhanh chóng tranh chấp, tránh để quá lâu làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh  của hàng hoá dịch vụ cũng như ý nghĩa của khuyến nghị giải quyết tranh chấp. Điều 12 DSU quy định:
· Ban hội thẩm phải bắt đầu công việc giải quyết tranh chấp chậm nhất là 1 tuần sau khi được thành lập;
· Báo cáo chính thức phải được hoàn thành chậm nhất là 6 tháng kể từ khi thành lập Ban hội thẩm (nếu là trường hợp hàng hóa liên quan dễ bị hư hỏng thì thời hạn này là 3 tháng). Thời hạn này cũng có thể đượ DSB kéo dài thêm trên cơ sở yêu cầu của Ban hội thẩm với lý do giải thích rõ ràng nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được gia hạn thêm quá 3 tháng;
· Các thời hạn trên có thể được điều chỉnh trong trường hợp tranh chấp có liên quan đến một nước đang phát triển.
+ Thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm (Adoption of Panel Report): Báo cáo của Ban hội thẩm được chuyển cho tất cả các thành viên WTO và được DSB thông qua trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Báo cáo được chuyển cho các thành viên trừ khi một Bên tranh chấp quyết định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết Báo cáo 

Báo cáo của Ban hội thẩm được lập thành văn bản trong đó phải có các nội dung sau: trình bày các tình tiết thực tế của vụ việc, tường trình về việc áp dụng các qui định của WTO trong các vấn đề liên quan, kết luận và các khuyến nghị cùng với các căn cứ dẫn tới kết luận, khuyến nghị đó.

3. Giai đoạn phúc thẩm


- Trình tự Phúc thẩm (Appelate Review):
+ Các bên tranh chấp có thể kháng cáo các vấn đề pháp lý trong Báo cáo của Ban hội thẩm (yêu cầu phúc thẩm) trên cơ sở yêu cầu chính thức bằng văn bản. Khi có yêu cầu này thủ tục phúc thẩm sẽ được bắt đầu.
+ Trong quá trình làm việc của SAB, các Bên tranh chấp và các Bên thứ ba có quyền đệ trình ý kiến bằng văn bản hoặc trình bày miệng tại phiên họp của cơ quan này. Hoạt động của SAB được giữ bí mật. Việc xem xét và đưa ra Báo
cáo phải được thực hiện với sự tham gia của các Bên tranh chấp.
+ Cơ quan Phúc thẩm ra Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết). Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm. Các Bên không có quyền phản đối Báo cáo này. DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo của SAB được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết.
- Khuyến nghị các giải pháp (Recommended Remedies):
+ Khi Báo cáo được thông qua xác định một biện pháp của một Bên là vi phạm qui định của WTO, cơ quan ra Báo cáo phải đưa ra khuyến nghị nhằm buộc Bên có biện pháp vi phạm phải tuân thủ qui định của WTO (yêu cầu bị đơn rút lại hoặc sửa đổi biện pháp liên quan) và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó.
+ Trường hợp khiếu kiện không vi phạm, Bên thua kiện không phải rút lại biện pháp liên quan (vì không có vi phạm) nhưng Báo cáo có thể khuyến nghị Bên thua thực hiện các dàn xếp nhất định để thoả mãn các Bên liên quan (Báo cáo có thể đưa ra những gợi ý về biện pháp dàn xếp thoả đáng, ví dụ: bồi thường)