- 1. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
- 2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm
- 3. Tính khách quan, tôn trọng sự thật, bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng
- 4. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có ý nghĩa gì về mặt chính trị - xã hội?
- 5. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có ý nghĩa gì về mặt pháp lý?
1. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định:
“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.
2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm
Nội dung thứ nhất của nguyên tắc quy định tại Điều 15 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự. Theo đó, trách nhiệm chứng minh được Bộ luật xác định là thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bộ luật cũng khẳng định: người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Nội dung của Điều 15 xác định rất rõ rằng, chứng minh chỉ là quyền mà không phải là nghĩa vụ của người bị buộc tội. Đây là điểm mới cực kỳ quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trước đây, chứng cứ và chứng minh là một quá trình hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trước đây, theo Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tại Điều 86 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Việc thay đổi này nhằm gỡ bỏ sự độc quyền của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc xác lập hồ sơ, thu thập, lựa chọn, đánh giá chứng cứ; nó sẽ giúp khắc phục được tình trạng khi mà từ phía người bị buộc tội và người bào chữa của họ được quyền thu thập các tài liệu, đồ vật, yêu cầu mà không có quyền đưa ra chứng cứ và càng không được quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá, đánh giá lại chứng cứ của chính các cơ quan đó.
Quyền chứng minh của phía người bị buộc tội thể hiện tính công bằng và minh bạch của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm và bảo vệ công lý. So với các Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 thì, theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền đưa ra chứng cứ mà không chỉ là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Đồng thời, những người này cũng có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ do các chủ thể tố tụng khác đưa ra, yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó. Người bào chữa ngoài các quyền kể trên còn có quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản (khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
3. Tính khách quan, tôn trọng sự thật, bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng
Nội dung thứ hai của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án đặt ra yêu cầu về tính khách quan, tôn trọng sự thật, bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng, đặc biệt là trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. cần phải khẳng định rằng, yêu cầu này chỉ được đặt ra đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án cần được hiểu như một yêu cầu, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải sử dụng hết mọi nỗ lực trong quá trình xác định các tình tiết của vụ án, có thái độ làm việc khách quan, toàn diện trong việc tìm kiếm và đánh giá chứng cứ. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, bên cạnh đó, trong tất cả các khâu hoạt động nói trên đều đòi hỏi các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của vụ án để có quyết định chính xác trong những tình huống giữa có tội và không có tội, áp dụng trách nhiệm hình sự hay miễn trách nhiệm hình sự. Để bảo đảm pháp chế và công lý, cần phải huy động ở người áp dụng pháp luật không chỉ các kiến thức pháp luật mà còn cả những hiểu biết đầy đủ, khách quan và toàn diện về các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, với một sự nhạy cảm sâu sắc. Ở đây, ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm của người áp dụng pháp luật là cơ sở quan trọng cho những quyết định đúng đắn và tính chặt chẽ của pháp luật.
4. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có ý nghĩa gì về mặt chính trị - xã hội?
Xác định sự thật của vụ án là một trong những yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, pháp luật sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. Các quyền cơ bản của những con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi việc xác định có tội, xác định vô tội, làm rõ tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo được thực hiện một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Nhiệm vụ của hoạt động tố tụng trong giải quyết vụ án cụ thể là phát hiện nhanh chóng, xử lý chính xác, công minh tội phạm và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Việc xác định sự thật của vụ án là nhằm sáng tỏ các tình tiết khác nhau của vụ án phục vụ cho việc định tội, quyết định trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng như giải quyết các vấn đề khác liên quan của vụ án.
Người bị buộc tội là những người có thể chịu hậu quả bất lợi từ kết quả xác định sự thật của cơ quan tiến hành tố tụng vì vậy họ có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh. Quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự nước ta. Đồng thời nó có vai trò phản biện quan trọng trong quá trình xác định sự thật của vụ án.
Như vậy, việc thực hiện đúng nguyên tắc này là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự ổn định xã hội. Hiện nay, người dân đang ngày càng ý thực được các quyền cơ bản của mình, đồng thời với đó là nhận thức về pháp luật cũng được nâng cao thì việc áp dụng đúng nguyên tắc xác định sự thật của vụ án thực sự trở nên chú trọng hơn bao giờ hết.
5. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có ý nghĩa gì về mặt pháp lý?
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án góp phần cụ thể hóa nguyên tắc hiến định và là cơ sở để tiến hành các giai đoạn tố tụng. Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 71: “…Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” và Điều 72: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật …”. Việc xác định sự thật phải được tiến hành do cán bộ tư pháp thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án và chỉ được sử dụng những biện pháp hợp pháp. Nguyên tắc này đã loại trừ những trường hợp người tiến hành tố tụng lại sử dụng các biện pháp có khả năng xâm hại nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân để làm rõ sự thật của vụ án. Để đảm bảo một cách tối đa quyền lợi của người dân, cơ quan tiến hành tố tụng phải có đầy đủ căn cứ chứng minh tội phạm, thể hiện qua bản án kết tội của Tòa án mới có thể khẳng định là có tội. Do vậy, việc thực hiện đúng nguyên tắc xác định sự thật là cơ sở quan trọng nhất để khẳng định một người là có tội hay không có tội.
Quá trình xác định sự thật là một quá trình vô cùng phức tạp, khi giữa các giai đoạn đều có sự liên quan mật thiết với nhau. Khi có đủ căn cứ khẳng định có dấu hiệu của tội phạm thì mới có thể khởi tố vụ án, và đó chính là căn cứ để tiến hành các hoạt động điều tra. Kết quả điều tra chính là cơ sở để Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can hoặc đình chỉ vụ án, đồng thời nó cũng là cơ sở để Tòa án xét xử đúng người đúng tội…Nếu như việc xác định sự thật tại một trong các giai đoạn đó không được đảm bảo thì tất yếu nguyên tắc này sẽ không được thực hiện.
Nguyên tắc này là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền do Bộ luật TTHS quy định bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhằm làm rõ những chứng cứ xác định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Ngoài ra nguyên tắc này cũng đặt ra nghĩa vụ đối với các cơ quan này không được thiên vị, cảm tình cá nhân, mà phải thu thập và đánh giá chứng cứ của vụ án trên tất cả các phương diện, cân nhắc kỹ mọi tình tiết có thể làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án. Từ đó, mọi tình tiết thu được trong quá trình điều tra, xét xử đều được đánh giá trên cơ sở pháp lý để rút ra kết luận về vụ án.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)