1. Nhập khẩu hàng hoá có được coi là khoản vay nước ngoài?

Nhập khẩu hàng hóa dưới hình thức trả chậm (hoặc còn gọi là "giao hàng sau thanh toán" hoặc "hình thức thanh toán trả chậm") là một thỏa thuận giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu, trong đó hàng hóa được chuyển giao cho người nhập khẩu trước, nhưng thanh toán cho hàng hóa được thực hiện sau một khoảng thời gian cố định sau khi hàng đã được nhận. Cách thức thanh toán trả chậm thường được thỏa thuận trong các hợp đồng mua bán giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.

Nhập khẩu hàng hóa được hiểu là khoản vay nước ngoài khi được thực hiện dưới hình thức trả chậm. Khoản vay nước ngoài là cụm từ dùng chung để chi khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh và khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh dưới mọi hình thức vay nước ngoài thông qua hợp đồng vay, hợp đồng nhập khẩu hàng hóa trả chậm, hợp đồng ủy thác cho vay, hợp đồng cho thuê tài chính hoặc phát hành công cụ nợ trên thị trường quốc tế của bên đi vay. Khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm không phải khoản tự vay, tự trả được Chính phủ bảo lãnh thông qua hợp đồng nhập khẩu hàng hóa trả chậm.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 12/2022/TT-NHNN thì khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm là một loại hình vay mà các hàng hóa được nhập khẩu được thanh toán trễ hơn so với ngày mà vốn ban đầu được rút ra từ nguồn tài trợ nước ngoài. Điều này có nghĩa là người vay có thời gian tương đối dài để sử dụng số tiền vay trước khi phải thanh toán nợ cuối cùng đối với các mặt hàng nhập khẩu, trong đó cụ thể như sau:

-Ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được xác định dựa trên các điều kiện sau đây:

+ Trong trường hợp ngân hàng cung cấp dịch vụ tài khoản và yêu cầu sự hiện diện của bộ chứng từ thanh toán, ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được xác định là ngày thứ 90 kể từ ngày phát hành chứng từ vận tải. Đây là khoảng thời gian quan trọng để đảm bảo rằng quá trình thanh toán được thực hiện một cách chính xác và đầy đủ.

+ Trong tình huống ngân hàng cung cấp dịch vụ tài khoản mà không yêu cầu bộ chứng từ thanh toán, ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được xác định là ngày thứ 45 tính từ ngày hoàn thành kiểm tra ghi trên tờ khai hải quan đã được thông quan. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu và xử lý hàng hóa, đồng thời giúp quy trình thanh toán diễn ra một cách hiệu quả.

- Ngày thanh toán cuối cùng, một ngày quan trọng trong quy trình thanh toán, có hai cách xác định:

+ Ngày thanh toán cuối cùng dựa trên thời hạn thanh toán được quy định trong hợp đồng. Đây là ngày mà các bên cam kết thực hiện thanh toán và hoàn tất các giao dịch theo thỏa thuận ban đầu. Việc xác định ngày này đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy trong giao dịch.

+ Trong trường hợp không có thực hiện theo hợp đồng hoặc hợp đồng không cụ thể quy định thời hạn thanh toán, ngày thanh toán cuối cùng sẽ dựa trên ngày thực tế mà thanh toán cuối cùng được thực hiện. Điều này đặc biệt quan trọng khi không có sự hạn chế từ hợp đồng và đảm bảo rằng các giao dịch vẫn có sự hoàn thiện và tính minh bạch ngay cả khi không có sự quy định cụ thể.

- Thời hạn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm là khoảng thời gian quan trọng được tính từ ngày mà nguồn tài trợ nước ngoài ban đầu được rút ra cho đến ngày cuối cùng mà toàn bộ số tiền phải được thanh toán. Điều này đồng nghĩa với việc xác định một khung thời gian đầy quan trọng để quản lý và điều hành các giao dịch nhập khẩu hàng hóa một cách hiệu quả và đảm bảo tính minh bạch trong quy trình thanh toán.

2. Nhập khẩu hàng hóa có phải đăng ký với Ngân hàng nhà nước?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 12/2022/TT-NHNN về nguyên tắc quản lý ngoại hối đối với các khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm như sau: Các khoản vay tự vay, tự trả dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm không thuộc đối tượng phải đăng ký, đăng ký thay đổi khoản vay nước ngoài theo quy định tại Chương III Thông tư này.

Theo đó, các khoản vay phải thực hiện đăng ký với Ngân hàng nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 11 Thông tư 12/2022/TT-NHNN bao gồm:

Thứ nhất, là các khoản vay trung, dài hạn nước ngoài. Khoản vay trung và dài hạn từ nước ngoài là một hình thức tài chính mà một quốc gia hoặc tổ chức trong một quốc gia vay tiền từ nguồn tài trợ ở nước ngoài hoặc các tổ chức tài chính quốc tế để cung cấp nguồn tài trợ cho các dự án, chương trình, hoặc để hỗ trợ tình hình tài chính của quốc gia.Khoản vay này phải được trả theo kế hoạch thanh toán được thỏa thuận trong hợp đồng. Thanh toán có thể được thực hiện dựa trên lịch trình cố định hoặc theo các điều kiện đặc biệt khác nhau.

Thứ hai, là các khoản vay ngắn hạn được gia hạn thời gian trả nợ gốc mà tổng thời hạn của khoản vay là trên 01 năm. Khoản vay ngắn hạn có thể được gia hạn thời gian trả nợ gốc trong trường hợp cả người cho vay và người vay đều đồng ý với điều này. Tuy nhiên, quyết định gia hạn thời gian trả nợ gốc sẽ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của hợp đồng vay và sự đồng ý của cả hai bên. Thời gian gia hạn có thể được thỏa thuận trong hợp đồng ban đầu hoặc thông qua một hợp đồng gia hạn riêng biệt. Thông thường, khi thời gian trả nợ gốc được gia hạn, khoản vay ngắn hạn sẽ vẫn duy trì tính chất ngắn hạn của nó, nhưng thời hạn sẽ được kéo dài. Điều này có thể giúp người vay tránh phải trả một lượng lớn tiền gốc trong một khoảng thời gian ngắn, giúp họ quản lý tài chính một cách dễ dàng hơn.

Thứ ba, là các khoản vay ngắn hạn không có thỏa thuận gia hạn nhưng còn dư nợ gốc (bao gồm cả nợ lãi được nhập gốc) tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên, trừ trường hợp bên đi vay hoàn thành thanh toán dư nợ gốc nói trên trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ thời điểm tròn 01 năm tính từ ngày rút vốn đầu tiên.

Như vậy có nghĩa là khi nhập khẩu hàng hóa dưới hình thức trả chậm là khoản vay nước ngoài tự vay, tự trả thì không cần đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Nhập khẩu hàng hóa dưới hình thức trả chậm phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước khi khoản vay thuộc một trong các trường hợp sau: khoản vay trung, dài hạn nước ngoài; khoản vay ngắn hạn được gia hạn thời gian trả nợ gốc mà tổng thời hạn của khoản vay là trên 01 năm hoặc là khoản vay ngắn hạn không có thỏa thuận gia hạn nhưng còn dư nợ gốc (bao gồm cả nợ lãi được nhập gốc) tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên, trừ trường hợp bên đi vay hoàn thành thanh toán dư nợ gốc nói trên trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ thời điểm tròn 01 năm tính từ ngày rút vốn đầu tiên.

Từ nội dung các quy định trên, có thể khẳng định rằng, nếu nhập khẩu hàng hóa với khoản vay nước ngoài tự vay và tự trả thì không cần đăng ký với Ngân hàng Nhà nước.

3. Chế độ báo cáo ngân hàng nhà nước thực hiện ra sao?

Theo quy định tại Điều 41 Thông tư 12/2022/TT-NHNN thì hàng tháng, theo một lịch trình định kỳ, và không chậm hơn ngày 05 của tháng tiếp theo sau kỳ báo cáo, bên đi vay cần thực hiện việc báo cáo tình hình thực hiện các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thông qua hệ thống trực tuyến trên Trang điện tử. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra sự cố hoặc lỗi kỹ thuật không cho phép gửi báo cáo trực tuyến, bên đi vay sẽ phải thực hiện việc báo cáo bằng hình thức văn bản.

Việc gửi báo cáo bằng hình thức văn bản phải tuân thủ theo mẫu được quy định tại Phụ lục 05, mà đã được ban hành và công bố đồng thời với Thông tư này. Quá trình này đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc báo cáo tài chính, ngay cả khi xảy ra sự cố về công nghệ.

Ngoài ra, có thể tham khảo thêm bài viết Vay vốn nước ngoài nhưng không đăng ký với ngân hàng nhà nước thì bị xử phạt như thế nào?. Còn vướng mắc, xin vui lòng liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Trân trọng./.