1. Mở đầu vấn đề

Xuất phát từ các mục tiêu đã được xác định ở trên, có thể đưa ra các nhiệm vụ ưu tiên sau đây của chính sách pháp luật nước ta hiện nay - các nhiệm vụ ưu tiên ở mức độ này hay các mức độ khác phát triển, cụ thể hóa các mục tiêu được nêu ở trên. Các nhiệm vụ ưu tiên đó là: (i) thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả; (ii) quy định hệ thống các giới hạn về pháp luật đối với công quyền; (iii) hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền; (iv) xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; (v) xây dựng hệ thống tư pháp có hiệu quả; (vi) củng cố kỷ luật, pháp chế và trật tự pháp luật; (vii) xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật.

Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu, tìm hiểu về nhiệm vụ hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền.

2. Nhiệm vụ hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền

Nhiệm vụ tiếp theo của chính sách pháp luật là tạo ra các tiền đề để hình thành xã hội pháp quyền Việt Nam.

Để hình thành xã hội pháp quyền, trước hết, cần có tư duy, tư tưởng, quan điểm về xây dựng xã hội pháp quyền Việt Nam

Chúng ta đã có tư duy, tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý và hiện thực về xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc ĩẫn thứ Xỉ, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011). Trong bối cảnh hiện nay, cần có tư duy, tư tưởng, quan điểm pháp quyền về xã hội Việt Nam, tức là tư duy, tư tưởng, quan điểm về xã hội pháp quyền Việt Nam cùng vói tư duy, tư tưởng, quan điểm về xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phương diện, đặc điểm, thuộc tính pháp quyền, như lịch sử phát triển của nhân loại và thực tiễn đổi mới ở nước ta thời gian qua cho thấy, luôn luôn đồng hành cùng phương diện, đặc điểm, thuộc tính dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là những phương diện, đặc điểm, thuộc tính của một xã hội đã đạt được trình độ phát triển nhất định, và cũng là mục tiêu vươn tới của xã hội chúng ta. Do vậy, pháp quyên là một trong những phương diện, đặc điểm, thuộc tính và mục tiêu hướng tới của xã hội Việt Nam.

3. Xã hội pháp quyền Việt Nam

Xã hội pháp quyền Việt Nam là một xã hội mà ở đó: chủ quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; pháp luật được đề cao và thống trị, thượng tôn trong xã hội; con người, quyền con người, quyền công dân là giá trị xã hội cao cả nhất được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ thiết thực, hiệu quả; toàn bộ tổ chức và hoạt động của các tổ chức của Đảng, Nhà nước, của các thiết chế kinh tế thị trường, các thiết chế chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, hoạt động của mọi người được vận hành theo Hiến pháp và pháp luật; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, phát triêh cao dựa trên những giá trị của xã hội Việt Nam và những giá trị của nền văn minh nhân loại; có nền văn hóa pháp luật phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quản trị quốc gia bằng pháp luật; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới dựa trên nền tảng pháp luật. Các thành tố trong quan niệm tổng quát nói trên về xã hội pháp quyền Việt Nam cũng chính là các đặc điểm của xã hội pháp quyền Việt Nam.

Giá trị cốt lõi của xã hội pháp quyền Việt Nam thể hiện ở chỗ xã hội pháp quyền Việt Nam là một giá trị, một tư tưởng, một quan điểm chính trị - pháp lý định hướng cho sự vận hành của toàn bộ xã hội Việt Nam theo Hiến pháp và pháp luật, theo tinh thần của pháp luật. Xã hội pháp quyền Việt Nam là một trong những giá trị, tư tưởng thuộc hệ giá trị chính trị - pháp lý Việt Nam, được hình thành, phát triêh và được bồi đắp thêm những nội dung, thành tố mới trong suốt chiều dài phát triển của xã hội Việt Nam. Giá trị, tư tưởng chính trị - pháp lý đó được lấy ra, được hình thành và phát triển trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lêrdn, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách lớn và hoạt động thực tiễn phong phú của Đảng ta, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước và tiếp thu các giá trị văn minh pháp luật của nhân loại, là tài sản tinh thần của dân tộc ta.

Tiếp đến, xã hội pháp quyền Việt Nam không chỉ là một giá trị, một tư tưởng, một quan điểm chính trị - pháp lý mà còn là một trạng thái phát triển, một phương thức hợp pháp, chính đáng, văn minh để thiết kế nên tổ chức và hoạt động của toàn bộ xã hội Việt Nam.

Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh: "Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền" là nền tảng tư tưởng hoàn toàn có giá trị trực tiếp ở đây.

Xã hội pháp quyền là một trật tự xã hội được thịết lập, củng cố, vận hành và phát triển dựa vào pháp luật, pháp quyền và các mối quan hệ lớn trong xã hội đó đều được pháp luật điều chỉnh.

Các mối quan hệ lớn của xã hội pháp quyền có thể gọi theo cách khác là các nội dung khái quát của xã hội pháp quyền. Khi hiểu các mối quan hệ đó, một mặt, cần hiểu đầy đủ, sâu sắc các mối quan hệ nội tại bên trong của từng mối quan hệ, mặt khác, cần hiểu đầy đủ, sâu sắc mối quan hệ giữa các mối quan hệ lớn đó.

Trong xã hội pháp quyền Việt Nam có một số mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt. Đó là: (i) quan hệ giữa chủ quyền nhân dân, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và pháp luật; (ii) quan hệ giữa quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và quyền con người; (iiĩ) quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường; (iv) quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và các thiết chế phi nhà nước; (v) quan hệ giữa kinh tế thị trường và các thiết chế phi nhà nước.

Phương thức xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền, ở một phương diện nhất định, được hiểu là phương thức giải quyết các mối quan hệ lớn nói trên. Các mối quan hệ đó cần phải được giải quyết theo phương thức nào? Phương thức chính trị hay phương thức pháp quyền hay kết hợp phương thức chính trị với phương thức pháp quyền trên nền tảng chính trị là chính hay nền tảng pháp luật là chính?

Ở tầm nhìn pháp quyền, các mối quan hệ nói trên là các mối quan hệ cơ bản, cốt tử, giải quyết tốt các mối quan hệ này là giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền Việt Nam. Các mối quan hệ đó cần phải được giải quyết theo phương thức pháp quyền. Điều đó có nghĩa rằng trong xã hội pháp quyền cần pháp quyền hóa các mối quan hệ đó, cần pháp quyền hóa quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội để bảo đảm tính chính đáng, tính chính danh, tính hợp hiến, tính hợp pháp của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước vì con người, quyền con người, quyền công dân; tổ chức và hoạt động của các thiết chế phi nhà nước cần phải được thể chế hóa đầy đủ bằng pháp luật để bảo đảm tính hợp pháp của các thiết chế đó. Từ quan điểm này, cần phải xây dựng và ban hành luật về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo hướng khẳng định các luận điểm hiến định về Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa các luận điểm đó về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, đốì với Nhà nước; phân định rõ hơn chức năng, thẩm quyền lãnh đạo của Đảng, chức năng, thẩm quyền quản lý của Nhà nước; xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp, sự giám sát lẫn nhau.

Xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền Việt Nam là một quá trình lịch sử lâu dài, là một hoạt động thường xuyên, liên tục, không gián đoạn của toàn bộ xã hội, là một kết quả với tư cách là một trạng thái phát triển của xã hội, do vậy, để xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền Việt Nam cần có các tiền đề, điều kiện nhất định. Vậy, các tiền đề, điều kiện đó là gì? Chúng liên quan, gắn liền với cái gì? Nhận thức đúng đắn về mặt lý luận các tiền đề, điều kiện đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng mô hình lý luận về quá trình xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền Việt Nam và cho việc chỉ đạo thực tiễn xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền hiện thực ở nước ta. Các tiền đề, điều kiện này bao quát những vấn đề rộng lớn liên quan đến tư duy, hệ tư tưởng chính trị - pháp lý; lý luận về xã hội pháp quyền; văn hóa pháp luật, trình độ ý thức chính trị và pháp luật của xã hội; hệ thống pháp luật hoàn thiện; trình độ phát triển nhà nước pháp quyền; trình độ phát triêh một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tạo dựng được các tiền đề, điều kiện đó trên thực tế nhằm đặt nền tảng cho quá trình hình thành và phát triển xã hội pháp quyền ở nước ta.

Như vậy, qua phân tích cho thấy, pháp quyền vừa là mục tiêu, vừa là giá trị, vừa là đặc điểm, vừa là một nguyên tắc, vừa là nội ảung, vừa là phương thức, vừa là động lực, vừa là kết quả, vừa là một trật tự của quá trình phát triển của xã hội Việt Nam.

Xã hội Việt Nam hiện nay, xét trên phương diện tư duy, tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý và hiện thực pháp luật đã CÓ các yếu tố cơ bản ban đầu của một xã hội pháp quyền. Các yếu tố đó đã, đang và từng bước hiện diện ở những từng nấc, phương diện khác nhau trong xã hội Việt Nam như một tất yếu khách quan.

Trên phương diện tư duy, tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý, đó là tư tưởng pháp quyền/pháp luật Hồ Chí Minh, sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước ta về các yếu tố của xã hội pháp quyền trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triêh năm 2011), trong Hiến pháp năm 2013 và các văn kiện khác của Đảng, Nhà nước (theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổsung, phát triển năm 2011); Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XII của Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016).

4. Yếu tố của xã hội pháp quyền Việt Nam

Trên phương diện thực tiễn, đó là sự hiện hữu trên thực tế các yếu tố của xã hội pháp quyền Việt Nam. Những yếu tố đó là:

- Ở nước ta chủ quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân;

- Trong quá trình đổi mới đất nước và cùng với quá trình đổi mới đất nước pháp luật ngày càng được đề cao và thống trị, thượng tôn trong xã hội, người dân ngày càng sử dụng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật nhiều hơn;

- Con người, quyền con người, quyền công dân là giá trị xã hội cao nhất từng bước được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ ngày càng thiết thực, hiệu quả, các thiết chế nhà nước, các thiết chế xã hội ngày càng quan tâm đến quyền con người, bảo vệ quyền con người;

- Toàn bộ tổ chức và hoạt động của các tổ chức của Đảng, của Nhà nước, của các thiết chế kinh tế thị trường, của các thiết chế chính trị-xã hội, các tô’ chức xã hội, hoạt động của mọi người từng bước được vận hành theo Hiến pháp và pháp luật;

- Hệ thống pháp luật nước ta từng bước được xây dựng, hoàn thiện, phát triển dựa trên những giá trị, truyền thống pháp luật của xã hội Việt Nam và những giá trị của riền văn minh pháp lý nhân loại;

- Ý thức pháp luật của Nhân dân, của cán bộ, công chức, viên chức ngày càng được nâng cao, đặc biệt ý thức về quyền con người của người dân được phát triêh sau khi Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã được ban hành, các thành tố của văn hóa pháp luật từng bước được phát triển;

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã hiện hữu ở nước ta, cụ thể hon là quyền lực nhà nước đã được phân công đê’ thực thi, từng bước có cơ chế đê’ kiêm soát;

- Quản trị quốc gia bằng pháp luật từng bước được thực hiện, cải cách hành chính được tiến hành mạnh mẽ và đạt được những thành tựu nhất định, đặt tiền đề, điều kiện cho bảo đảm, bảo vệ quyền con người, phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển văn hóa và phát triêh các lĩnh vực khác của đời sống xã hội;

- Nhà nước ta ngày càng coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới dựa trên nền tảng pháp luật.

Những yếu tố nói trên chính là những tiền đề, điều kiện để xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền ở nước ta với tư cách là một tất yếu khách quan.

5. Bàn luận về xây dựng nhà nước pháp quyền

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, có thể nói rằng, tư duy, tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về pháp quyền, pháp luật, các yếu tố của xã hội pháp quyền ngày càng phát triêh, hiện thực xã hội pháp quyền Việt Nam đang hình thành và phát triển từng bước, được khẳng định trong thực tiễn.

Để xây dựng và phát triển xã hội pháp quyền Việt Nam cần hình thành các tiền đề, điều kiện sau đây: cần có tư duy, tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý về xã hội pháp quyền; phát triêh lý luận về xã hội pháp quyền; xây dựng văn hóa pháp luật phát triêh, nâng cao trình độ ý thức chính trị và ý thức pháp luật của xã hội; hoàn thiện hệ thống pháp luật; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hướng tói mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).