1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam là gì?
Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hay còn được biết đến với tên gọi tiếng Anh là "Viet Nam Social Security - VSS," chính thức ra đời vào ngày 16/02/1995, dựa trên Nghị định số 19/CP của Chính phủ. Lúc này, Bảo hiểm xã hội đã đảm nhận các chức năng và nhiệm vụ trước đây thuộc về các bộ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cũng như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoạt động dưới hình thức một cơ quan thuộc Chính phủ và được quản lý trực tiếp bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Hiện nay, ông Nguyễn Thế Mạnh đang giữ chức vụ Tổng Giám đốc, cùng với bốn Phó Tổng Giám đốc: Phạm Lương Sơn, Trần Đình Liệu, Đào Việt Ánh, và Lê Hùng Sơn.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Việc thành lập các cơ quan nhà nước luôn được quy định rõ ràng về vị trí, chức năng, và quyền hạn trong các văn kiện pháp lý, và Bảo hiểm xã hội không phải là ngoại lệ. Điều này giúp đảm bảo Bảo hiểm xã hội hoạt động đúng đắn và tránh việc lạm dụng quyền lực. Mới đây, Chính phủ đã phát hành Nghị định 89/2020/NĐ-CP để chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và cấu trúc tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Theo quy định, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là một cơ quan thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ tổ chức và triển khai thực hiện các chế độ và chính sách liên quan đến bảo hiểm xã hội và y tế. Ngoài ra, cơ quan này cũng đảm nhiệm việc thu và chi các khoản đóng góp theo chế độ bảo hiểm thất nghiệp, cũng như quản lý và sử dụng các quỹ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, và bảo hiểm y tế. Đồng thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm thanh tra chuyên ngành liên quan đến việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, và bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, của Bộ Y tế đối với bảo hiểm y tế, và của Bộ Tài chính đối với các vấn đề tài chính liên quan đến các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, và bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm và quyền hạn như sau: đầu tiên, xác định, khai thác, và quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác, đăng ký, và quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật. Họ cũng có thẩm quyền tổ chức thu hoặc ủy quyền cho các tổ chức dịch vụ thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động và cá nhân, tuân theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng tiếp nhận các khoản kinh phí từ ngân sách nhà nước để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật. Họ có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ và giải quyết các chế độ như ốm đau, thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện việc ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh đáp ứng điều kiện và tiêu chuẩn chuyên môn, kỹ thuật; kiểm tra và giám sát thực hiện hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; tổ chức giám định bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế và ngăn chặn lạm dụng, trục lợi từ chế độ bảo hiểm y tế.
Họ cũng thực hiện kiểm tra việc đóng, trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động, cá nhân; từ chối việc đóng và yêu cầu chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định của pháp luật.
Về việc quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiến hành quản lý các quỹ này, bao gồm: quỹ hưu trí và tử tuất, quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, quỹ ốm đau và thai sản, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, và quỹ bảo hiểm y tế, tuân theo nguyên tắc tập trung, công khai, minh bạch và đúng mục đích theo quy định của pháp luật. Họ cũng chịu trách nhiệm hạch toán các quỹ này theo quy định của pháp luật.
Mỗi năm, sau khi được Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội phê duyệt, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ xây dựng và thực hiện phương án đầu tư cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế. Họ cũng thực hiện quản lý rủi ro trong việc đầu tư các quỹ này dựa trên quy định của pháp luật.
3. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo cơ cấu hệ thống từ cấp Trung ương đến cấp địa phương với các đơn vị chính như sau:
- Tại cấp Trung ương, có Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
- Ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, có Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mà đơn vị này thuộc quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
- Tại cấp huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương, có Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đơn vị này trực thuộc quản lý của Bảo hiểm xã hội tỉnh.
- Tại những đơn vị hành chính là thành phố hoặc thị xã trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, không tồn tại đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam được lãnh đạo bởi Tổng Giám đốc và tối đa không quá 05 Phó Tổng Giám đốc.
Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tại cấp Trung ương bao gồm các đơn vị chuyên môn và sự nghiệp trực thuộc, như sau:
1. Vụ Tài chính - Kế toán
2. Vụ Hợp tác quốc tế
3. Vụ Thanh tra - Kiểm tra
4. Vụ Thi đua - Khen thưởng
5. Vụ Kế hoạch và Đầu tư
6. Vụ Tổ chức cán bộ
7. Vụ Pháp chế
8. Vụ Quản lý đầu tư quỹ
9. Vụ Kiểm toán nội bộ
10. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
11. Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế
12. Ban Quản lý Thu - Sổ, Thẻ
13. Văn phòng (có đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh)
14. Viện Khoa học bảo hiểm xã hội
15. Trung tâm Truyền thông
16. Trung tâm Công nghệ thông tin
17. Trung tâm Lưu trữ
18. Trung tâm Giám định bảo hiểm y tế và Thanh toán đa tuyến
19. Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng
20. Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội
21. Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Các đơn vị từ (1) đến (13) là các đơn vị chuyên môn hỗ trợ Tổng Giám đốc, trong khi các đơn vị từ (14) đến (21) là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Tổng Giám đốc có thẩm quyền quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc, và quy định kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh không quá 03 người.
Tổng Giám đốc cũng quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế và kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện. Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh có trách nhiệm thành lập các Tổ nghiệp vụ tại Bảo hiểm xã hội huyện dựa trên nguyên tắc được Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành.
Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh cũng đảm nhiệm việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện, Tổ trưởng, Phó Tổ trưởng các Tổ nghiệp vụ thuộc Bảo hiểm xã hội huyện, theo tiêu chuẩn chức danh và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện không quá 02 người.
Bài viết liên quan: Sơ đồ bộ máy và cơ cấu tổ chức Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!