1. Như thế nào thì vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ?

Chào Luật sư! Tôi có vụ việc như thế này, tôi có biết trường hợp có hành vi sử dụng ma tuý đá tại nhà cùng với 4 người nữa, sau khi sử dụng có hiện tượng bị ảo giác và sau đó gây ra án mạng, khiến một người chết. Ngoài các tội về hành vi gây chết người ra thì có bị xủ lý về hành vi sử dụng ma tuý không? Có phạm tội tổ chức sử dụng ma tuý trái phép hay không?
Xin cảm ơn Luật sư!

Luật sư tư vấn:

Trường hợp sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà và có từ 02 người trở lên thì hoàn toàn có thể truy tố trách nhiệm hình sự về tôi " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ". Tội này được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

"Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

1.1 Các dấu hiệu phạm tội " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý " như sau:

- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

- Khách thể: Là chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy với mục đích chữa bệnh. Bởi vậy, quan hệ xã hội bị xâm phạm còn bao gồm cả tính mạng, sức khỏe, trật tự an toàn xã hội.
Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người sử dụng chất ma túy. Tuy nhiên, người sử dụng trái phép chất ma túy không phải là nạn nhân mà ngược lại họ là người chủ động sử dụng ma tuý.

- Mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Tức là người phạm tội biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy được trước các tác hại của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện. Như vậy, hành vi chỉ có thể được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, không tồn tại trường hợp nào do lỗi cố ý gián tiếp. Mục đích của người phạm tội là mong muốn đưa chất ma túy vào cơ thể người khác với nhiều cách và mục đích khác nhau nhưng chủ yếu là vì mục đích vụ lợi. Đây là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Tức là các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh mục đích của người phạm tội. Nếu không chứng minh được mục đích của người phạm tội là mong muốn đưa chất ma tuý vào cơ thể của người khác thì không phải là phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, mà tuỳ trường hợp cụ thể người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội mua bán trái phép chất ma tuý...hoặc sử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Mặt khách quan: Phạm tội tổ chức nhất thiết phải có từ 2 người trở lên. Là một hình thức đồng phạm có sự kết cấu chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm cụ thể.

+ Người tổ chức: là người chủ mưu, cầm đầu chỉ huy việc thực hiện tội phạm, nói lên vai trò nhiệm vụ của một người trong một vụ án có đồng phạm, còn hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý không nhất thiết phải là người cầm đầu trong một vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

+ Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa ma tuý vào cơ thể người khác: Trường hợp phạm tội này, người phạm tội thực hiện hành vi của mình như người tổ chức trong vụ án có tổ chức, nhưng việc chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác. Người khác ở đây là người có nhu cầu sử dụng chất ma tuý.

+ Thuê, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý...để sử dụng ma tuý và đưa ma tuý vào cơ thể người khác. Muốn sử dụng trái phép chất ma tuý thì phải có địa điểm. Tuy nhiên địa điểm để sử dụng trái phép chất ma tuý cũng đa dạng như địa điểm đối với hành vi tổ chức đánh bạc. Có thể là những điểm tĩnh như: nhà ở, trụ sở cơ quan, trường học, khách sạn, nhà hàng, quán nước, vườn cây, chòi cá… nhưng cũng có thể trên các phương tiện giao thông như: máy bay, tầu thuỷ, tầu hoả, ô tô, thuyền, bè… Trong các địa điểm trên, có loại thuộc quyền quản lý của Nhà nước, của tập thể, của tổ chức… nhưng có loại thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của cá nhân.

+ Nguồn ma tuý để sử dụng: Đây là trường hợp người phạm tội có chất ma tuý dưới bất kỳ nguồn nào như: mua được, xin được, được cho, được gửi giữ, nhặt được… rồi đem chất ma tuý đó cung cấp cho người khác để họ sử dụng trái phép. Nếu bán chất ma tuý đó cho người khác để họ sử dụng trái phép thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý.

+ Tìm người và chuẩn bị phương tiện để sử dụng trái phép chất ma tuý và đưa ma tuý vào cơ thể người khác.

+ Các hành vi khác giúp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý.

1.2 Truy tố trách nhiệm hình sự về " tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý phải thoả mãn các dấu hiệu của tôi phạm này và sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự theo điều 255, bộ luật hình sự năm 2015, sửa đồng bổ sung năm 2017.

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?

2. Việc sử dụng ma tuý đá gây hại đến người khác bị xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư! Chị tôi lập gia đình được 2 năm, hiện bây giờ có 1 con. Chị và chồng không có giấy đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống với chồng, chồng chị thường xuyên sử dụng ma tuý đá, hậu quả là đã nhiều lần đánh đập chị thương tích đầy mình. Đến đỉnh điểm là ngày 19/5/2016, chị bị chồng đánh uất quá nên đã bế con bỏ trốn.
Trong thời gian chị trốn thì chồng chị lấy cớ đòi con, liên tục gây áp lực, hù doạ gia đình chị là ra đường cẩn thận, rồi còn nhiều lần xuống nhà hăm doạ. Gia đình chị bị áp lực cũng đã khuyên chị đưa cháu về. Nhưng chồng chị vẫn quá đáng. Chuyện là đêm qua ngày 29/9/2016, bà ngoại có bế cháu về nhà ngủ chung. Chồng chị không biết nguyên nhân do đâu kéo 2 chiếc xe hơi xuống nhà anh đòi cháu. Do khuya gia đình chưa kịp mở cửa thì anh ta liền đạp sập cánh cửa và buông lời lăng mạ mẹ chị, hăm doạ bắn chết anh trai chị. Gia đình do hoảng sợ đã báo công an phường. Tưởng chuyện đã qua. Nhưng đến trưa ngày 30/9/2016, chồng chị cùng một tên thanh niên lại tiếp tục xuống và quậy phá gia đình. Anh thách gia đình báo công an, hăm doạ giết cả nhà, buông lời nhục mạ không thương tiếc và còn vô cớ ra tay đánh bạn gái của anh chị, tuy nhiên thương tích không nặng, không đủ để truy tố hình sự. Tôi muốn hỏi là:

1. Chồng chị làm như vậy có bị truy tố hình sự hay không? Hay chỉ đơn giản là tội phá hoại tài sản.

2. Đối với hành vi hăm doạ giết người có bị truy tố không? Trong thời gian này anh vẫn còn chơi đá, vậy nếu một người sản đá làm ảnh hưởng đến an nguy cuộc sống của người khác như vậy thì pháp luật có cách nào giải quyết hay không?

Tôi chân thành cảm ơn!

Tư vấn về hình thức xử phạt khi mua bán sử dụng trái phép ma tuý đá dưới 1g ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về ma túy, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Chồng chị làm như vậy có bị truy tố hình sự hay không? Hay chỉ đơn giản là tội phá hoại tài sản.

Chồng chị bạn có hành vi đạp sập cánh cửa và buông lời lăng mạ mẹ chị nên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 155 và Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Gây thiệt hại tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau (qua điện thoại, thư từ…) hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể gián tiếp thể hiện sự đe dọa (như đi tìm công cụ, phương tiện…).

Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lí lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Như vậy, trường hợp một người nhiều lần nhắn tin, đe dọa người khác để đòi tiền chỉ có thể bị coi là phạm tội đe dọa giết người nếu nội dung của tin nhắn có việc dọa giết, đồng thời nội dung và phương thức nhắn tin phải làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Hành vi đe dọa giết người sẽ không cấu thành tội này khi hành vi đó cùng với những mục đích nhất định cấu thành tội khác. Ví dụ: Đe dọa giết người nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản cấu thành tội cướp tài sản.

Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong tình trạng tâm lí như vậy hay không cần phải dựa vào những tình tiết sau: Nội dung và hình thức đe dọa; thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vi đe dọa xảy ra; tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa; thái độ và những xử sự cụ thể của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa…

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra sự lo sợ cho người khác, có thể dẫn đến hậu quả như lời đe dọa nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Tội phạm này xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng.

Tội đe dọa giết người được coi là tội phạm ít nghiệm trọng, do đó khung hình phạt cơ bản của tội này có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm; phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm. Đối với trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tăng nặng như: Đe dọa giết nhiều người; đe dọa giết người thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của họ; đe dọa giết trẻ em; đe dọa giết người để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lí về một tội khác thì bị coi là tội phạm nghiêm trọng, bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Tuy nhiên, người chưa thành niên phạm tội này có thể được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội này, nếu gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Như vậy, chị bạn có thể gửi đơn tố cáo tới cơ quan công an gần nhất, đề nghị các cơ quan có biện pháp bảo vệ gia đình và bản thân. Trong trường hợp công an thu thập đủ chứng cứ có thể kết tội chồng chị bạn với tội đe dọa giết người và mức phạt từ 3 tháng tới 7 năm tùy trường hợp cụ thể.

>> Xem thêm:  Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?

3. Ép người khác sử dụng ma tuý thì phạm tội gì ?

Thưa luật sư, xin hỏi: P là con nghiện đã bị kết án về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, trở về gia đình, P đã rủ rê, lôi kéo một số người sử dụng trái phép chất ma tuý, trong đó có H. Do H chưa biết sử dụng ma tuý, nên rất sợ không dám chích ma tuý. P ra lệnh cho đồng bọn trói H và dùng tay chân đấm đá H. Vì bị đánh và sợ P, nên H đã miễn cưỡng sử dụng ma tuý và bị bắt quả tang. P phạm tội gì?

Bị bắt vì  đã  sử dụng ma tuý đá và  giữ ma tuý đá sẽ xử phạt như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi dùng vũ lực của P để bắt H phải miễn cưỡng sử dụng ma tuý đã phạm vào “tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 257, 258 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

"Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng."

"Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng."

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?

4. Mức xử phạt khi mua bán sử dụng trái phép ma tuý đá dưới 1g ?

Thưa luật sư, Ngày 14-10-2016 chồng tôi đang đi trên đường thì có 1 người bạn A gọi điện nhờ chồng tôi lấy hộ 300 nghìn ma tuý đá tương đương khoảng 0,50g. Chồng tôi nhận lời và đi lấy hộ cho bạn A. Đang trên đường đi về đưa cho bạn A thì chồng tôi bị công an bắt.
Trong quá trình điều tra thì chồng tôi khai rằng đã bán 2 lần cho bạn A. Thưa luật sư. Tội của chồng tôi sẽ bị phạt tù bao nhiêu năm. Bản thân chồng tôi khônh có tiền án tiền sự. Theo tôi được biết thì người bạn A của chồng tôi bị công an bắt và giam giữ 7-10-2016. Ngày 14-10-2016 người bạn tên A gọi điện cho chồng tôi nhờ chồng tôi lấy hộ đến khi đang trên đường đến điểm hen đưa cho bạn A ( chưa gặp bạn A ) thì chồng tôi bị công an bắt. người bạn tên A của chồng tôi được công an thả về nơi bạn A thuê nhà tạm trú và đã rời khỏi địa phương tạm trú về quê ?
Mong luật sư tư vấn giúp tôi!

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, tôi nhận thấy có 02 tội mà người thân của mình bị Cơ quan điều tra xem xét xử lý, đó là tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy. Cụ thể như sau:

- Tội vận chuyển trái phép chất ma túy:

Điều 194 - Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không có quy định trọng lượng ma túy tối thiểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại thông tư liên tịch số 17 có hướng dẫn cụ thể điều này, theo đó chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam.

Điều này có nghĩa dưới mức 0,1 gam ma túy tồn tại dưới dạng horoin hoặc cocain sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hiện nay tại Điều 249 - BLHS năm 2015 cũng định lượng trọng lượng ma túy là Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam sẽ bị truy cứu trách nhiệm.

Căn cứ những quy định trên nhận thấy, người nhà của bạn được anh A nhờ đi lấy ma túy nên hành vi này là vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên trọng lượng ma túy chỉ là 0,05g nên dưới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vậ chuyển trái phép chất ma túy do dưới mức tối thiểu pháp luật quy định.

- Tội mua bán trái phép chất ma túy:

Theo thông tin bạn cung cấp, theo lời khai thì chồng bạn có 2 lần mang tiền đi mua ma túy cho A nhưng thực sự không có cơ sở để kết luận hai lần đó chồng bạn đã đi mua và trọng lượng ma túy là bao nhiêu. Nên chỉ căn cứ vào lời khai trên để kết tội là phiến diện, chưa khách quan. Cho nên, Cơ quan điều tra sẽ không thể kết luận chồng bạn phạm tội này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mua bán hạt giống cây gai dầu có hợp pháp ?

5. Bị bắt vì đã sử dụng ma tuý đá và giữ ma tuý đá sẽ xử phạt như thế nào?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: chồng tôi bị bắt trong người có giữ 1 ít ma tuý đá dưới 1 gam và đã sử dụng ma tuý đá. Khi bị bắt chồng tôi có giữ số tiền của ông anh là 30 triệu số tiền này có người làm chứng, vậy xin hỏi chồng tôi có bị xử phạt tù không và số tiền đó có trả lại không ? Tôi xin chân thành cám ơn.

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của chồng chị, nếu anh bị bắt khi đang sử dụng trái phép chất ma túy thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử phạt hành chính theo khoản 1 điều 22 NĐ Nghị định số 167/1013/ NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình:

Điều 21: Vi phạm các quy định về phòng, chống và kiểm soát ma túy

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép;

b) Tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy;

c) Sản xuất, mua, bán những dụng cụ sử dụng chất ma túy trái quy định của pháp luật.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trồng các loại cây thuốc phiện, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma túy.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Người chủ hoặc người có trách nhiệm quản lý nhà hàng, cơ sở cho thuê lưu trú, câu lạc bộ, các phương tiện giao thông và các nơi khác để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực, phương tiện mình quản lý;

b) Môi giới, giúp đỡ, tạo điều kiện hoặc bằng các hình thức khác giúp cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy;

c) Chuyển chất ma túy, chất hướng thần hoặc các chất ma túy khác cho người không được phép cất giữ, sử dụng.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cung cấp trái pháp luật địa điểm, phương tiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh các chất có chứa chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và tiền chất ma túy;

c) Vi phạm các quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, bảo quản chất ma túy, tiền chất ma túy;

d) Vi phạm các quy định về giao nhận, tàng trữ, vận chuyển chất ma túy, tiền chất ma túy;

đ) Vi phạm các quy định về phân phối, mua bán, sử dụng, trao đổi chất ma túy, tiền chất ma túy;

e) Vi phạm các quy định về quản lý, kiểm soát, lưu giữ chất ma túy, tiền chất tại các khu vực cửa khẩu, biên giới, trên biển.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này.

7. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu trong người anh đang tàng trữ chất ma túy và lượng ma túy dưới 1 gam thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 và mức phạt tù cao nhất của khung hình phạt này là 5 năm.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Cuối cùng, số tiền trong người anh nếu xác định được đúng mục đích không liên quan đến việc tàng trữ hay sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ được bảo toàn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mua bán sử dụng trái phép ma tuý đá dưới 1g có phải chịu trách nhiệm không ?