- 1. Khái quát chung về hành vi xâm phạm quyền tác giả
- 2. Những hành vi xâm phạm quyền tác giả
- 2.1. Nhóm hành vi xâm phạm các quyền cơ bản
- 2.2. Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ khi sử dụng ngoại lệ (khoản 3)
- 2.3. Nhóm hành vi tấn công biện pháp công nghệ bảo vệ quyền (khoản 4 và khoản 5)
- 3. Hành vi xâm phạm thông tin quản lý quyền và trách nhiệm trung gian
- Kết luận
Điều 28 của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam. Điều 28 không chỉ đơn thuần liệt kê các hành vi bị cấm mà còn phản ánh tư duy lập pháp mới, thích ứng với môi trường kỹ thuật số và các cam kết quốc tế (như Hiệp định CPTPP, EVFTA). Sự thay đổi cốt lõi của Điều 28 trong lần sửa đổi này là việc mở rộng phạm vi xác định hành vi xâm phạm từ các hành vi vật lý truyền thống sang các hành vi phi vật chất trên không gian mạng. Quy định này thiết lập một hàng rào pháp lý ba lớp: bảo vệ quyền cơ bản (nhân thân và tài sản), bảo vệ các biện pháp kỹ thuật tự vệ (biện pháp công nghệ, thông tin quản lý quyền), và xác định trách nhiệm của các bên trung gian (ISP)
1. Khái quát chung về hành vi xâm phạm quyền tác giả
Trước khi xem xét từng hành vi được liệt kê tại Điều 28 Luật SHTT, việc nhận diện một hành vi có cấu thành xâm phạm quyền tác giả hay không phải dựa vào bốn nguyên tắc pháp lý nền tảng được quy định tại Điều 66 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Các căn cứ này đóng vai trò như “bộ lọc pháp lý”, bảo đảm rằng chỉ những hành vi thật sự có khả năng xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mới bị coi là vi phạm. Việc đáp ứng đồng thời cả bốn điều kiện là bắt buộc để kết luận xâm phạm.
Thứ nhất, về đối tượng bị xem xét phải thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ những tác phẩm nằm trong thời hạn bảo hộ và phù hợp với tiêu chuẩn bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ mới được xem là đối tượng có thể bị xâm phạm. Điều này loại trừ các tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ và trở thành tài sản của công chúng, cũng như các loại đối tượng không được bảo hộ theo Điều 15 Luật SHTT, chẳng hạn tin tức thời sự thuần túy, văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính. Do đó, ngay cả khi có hành vi sao chép hoặc khai thác các đối tượng này, người thực hiện vẫn không bị coi là xâm phạm quyền tác giả vì đối tượng không được pháp luật bảo hộ.
Thứ hai, hành vi phải có yếu tố xâm phạm. Đây là nội dung cốt lõi yêu cầu chứng minh sự trùng lặp, tương đồng đáng kể hoặc việc khai thác trái phép một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Yếu tố xâm phạm có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, từ hành vi sao chép vật lý (như in lậu sách, làm đĩa lậu) đến sao chép điện tử (tạo file, tải bản sao lên mạng), hoặc hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép dưới các hình thức truyền đạt, phân phối, biểu diễn, công bố. Việc đánh giá yếu tố xâm phạm trong môi trường số đòi hỏi xem xét cả các bản sao tạm thời, bản sao kỹ thuật số được tạo ra tự động bởi hệ thống công nghệ.
Thứ ba, người thực hiện hành vi không có quyền hoặc không được phép thực hiện hành vi đó. Điều này bao gồm các trường hợp người thực hiện không phải là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, không được chuyển giao quyền, không được li-xăng sử dụng, hoặc hành vi không thuộc các ngoại lệ được pháp luật cho phép. Các ngoại lệ như sử dụng hợp lý cho nghiên cứu, giảng dạy, hoặc hỗ trợ người khuyết tật theo Điều 25, 25a chỉ được áp dụng khi sử dụng đúng mục đích, đúng điều kiện và không gây thiệt hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm. Nếu vượt quá phạm vi của ngoại lệ, hành vi sẽ bị coi là xâm phạm.
Thứ tư, hành vi phải xảy ra tại Việt Nam hoặc gây hậu quả pháp lý tại Việt Nam. Điều này nhằm xác định thẩm quyền xử lý của cơ quan nhà nước. Trong bối cảnh tác phẩm được sử dụng trên môi trường số không biên giới, hành vi đăng tải trên internet từ nước ngoài nhưng hướng đến người dùng Việt Nam hoặc gây thiệt hại tại Việt Nam vẫn được coi là hành vi xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam theo nghĩa pháp lý.
Do đó, Điều 28 Luật SHTT không được áp dụng một cách biệt lập mà phải được xem là sự cụ thể hóa các căn cứ xác định hành vi xâm phạm. Mọi hành vi được liệt kê tại Điều 28 chỉ bị coi là vi phạm khi được đối chiếu và thỏa mãn đầy đủ các điều kiện nêu trên. Điều này bảo đảm tính minh bạch, khách quan và hợp lý trong quá trình đánh giá, xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong thực tiễn.
2. Những hành vi xâm phạm quyền tác giả
2.1. Nhóm hành vi xâm phạm các quyền cơ bản
Căn cứ khoản 1 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định hành vi xâm phạm quyền tác giả là hành vi "Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này."
Quyền nhân thân là quyền gắn liền với nhân cách của tác giả, phản ánh mối quan hệ tinh thần giữa tác giả và tác phẩm của mình. Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền nhân thân bao gồm bốn nhóm cơ bản. Thứ nhất, quyền đặt tên cho tác phẩm, theo đó tác giả có quyền đặt tên và kiểm soát việc sử dụng tên tác phẩm. Quyền này có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân nhận quyền tài sản theo khoản 1 Điều 20, nhưng chỉ giới hạn ở việc sử dụng tên tác phẩm, không làm mất quyền nhân thân gốc của tác giả. Thứ hai, quyền đứng tên thật hoặc bút danh bảo đảm tác giả được ghi nhận danh tính khi công bố hoặc sử dụng tác phẩm, qua đó bảo vệ uy tín và danh dự. Thứ ba, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố cho phép tác giả kiểm soát việc phát hành tác phẩm, đồng thời ngăn cản các hành vi công bố trái phép hoặc cản trở việc tác giả công bố tác phẩm của mình. Cuối cùng, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm bảo đảm tác phẩm không bị xuyên tạc, sửa đổi hoặc cắt xén dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Hành vi xâm phạm quyền nhân thân xảy ra khi cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi vi phạm quyền đặt tên, quyền đứng tên, quyền công bố hoặc quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm mà không được sự cho phép hợp pháp của tác giả. Các hành vi điển hình bao gồm mạo danh tác giả hoặc sử dụng tên, bút danh trái phép; công bố tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả; xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào làm phương hại đến danh dự, uy tín của tác giả. Việc nhận diện xâm phạm quyền nhân thân cần dựa trên yếu tố chủ thể, hành vi, mục đích và hậu quả của hành vi đối với tác phẩm và danh tiếng của tác giả.
Trong khi quyền nhân thân bảo vệ mối quan hệ tinh thần và uy tín của tác giả, quyền tài sản theo Điều 20 bảo vệ lợi ích kinh tế phát sinh từ tác phẩm, bao gồm quyền sao chép, phân phối, biểu diễn, phát sóng và làm tác phẩm phái sinh. Sự phân tách giữa quyền nhân thân và quyền tài sản giúp pháp luật vừa bảo vệ quyền lợi vật chất của chủ sở hữu quyền tác phẩm, vừa bảo vệ danh dự, uy tín của tác giả. Đồng thời, cơ chế này tạo cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm một cách toàn diện, đảm bảo cân bằng giữa lợi ích cá nhân của tác giả và nhu cầu khai thác kinh tế hợp pháp của chủ sở hữu quyền.
Căn cứ khoản 2 Điều 28 LSHTT quy định hành vi xâm phạm quyền tác giả là hành vi "Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này"
Theo khoản Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ (LSHTT), hành vi xâm phạm quyền tác giả được hiểu là hành vi vi phạm quyền tài sản của tác giả, được quy định tại Điều 20 của Luật này. Điều này nhấn mạnh rằng việc bảo vệ quyền tác giả không chỉ bao gồm quyền nhân thân mà còn bao gồm các quyền liên quan đến khai thác, sử dụng tác phẩm dưới hình thức tài sản, có giá trị kinh tế. Hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ xảy ra khi một tổ chức, cá nhân khai thác hoặc sử dụng tác phẩm mà không được sự cho phép hợp pháp của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Cụ thể, xâm phạm có thể diễn ra dưới nhiều hình thức: tạo tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc mà không được đồng ý bằng văn bản, đặc biệt nếu làm ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả; biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện kỹ thuật mà không được phép; sao chép toàn bộ hoặc một phần tác phẩm ngoài các trường hợp luật định cho phép; phân phối, bán, chuyển giao, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả; phát sóng, truyền đạt tác phẩm đến công chúng thông qua hữu tuyến, vô tuyến, mạng điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác mà không được phép; và cho thuê bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính mà không tuân thủ các quy định của pháp luật. Tất cả các hành vi này đều xâm phạm quyền tài sản của tác giả, đồng thời vi phạm quyền lợi kinh tế và sự kiểm soát hợp pháp của tác giả đối với tác phẩm của mình.
2.2. Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ khi sử dụng ngoại lệ (khoản 3)
Căn cứ khoản 3 Điều 28 LSHTT quy định: "Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này."
Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo các điều 25, 25a và 26 của Luật Sở hữu trí tuệ cũng được coi là xâm phạm quyền tác giả. Cụ thể, khi sử dụng tác phẩm cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy, đưa tin thời sự theo Điều 25 hoặc phát sóng theo Điều 26, người sử dụng bắt buộc phải ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc tác phẩm và trong một số trường hợp phải trả nhuận bút; việc không thực hiện các nghĩa vụ này sẽ vi phạm luật. Đối với quyền sử dụng tác phẩm dành cho người khuyết tật theo Điều 25a, các tổ chức được phép sao chép tác phẩm sang định dạng dễ tiếp cận nhưng không vì mục đích lợi nhuận; nếu lợi dụng quy định này để kinh doanh thương mại bản sao, hành vi đó sẽ cấu thành xâm phạm quyền tác giả theo khoản 3 Điều 28. Như vậy, việc bỏ qua hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ này đều làm suy giảm quyền lợi hợp pháp của tác giả và bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
2.3. Nhóm hành vi tấn công biện pháp công nghệ bảo vệ quyền (khoản 4 và khoản 5)
Căn cứ khoản 4, khoản 5 Điều 28 LSHTT sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định: "Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 35 của Luật này.
Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả."
Hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện nhằm bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình được coi là xâm phạm quyền tác giả. Đối với người sử dụng cuối, việc này thể hiện qua các hành vi như sử dụng phần mềm để bẻ khóa bản quyền phần mềm, hoặc dùng công cụ vượt tường lửa để truy cập phim, nhạc, phần mềm bất hợp pháp; yếu tố bắt buộc để cấu thành là hành vi phải nhằm thực hiện xâm phạm quyền tác giả. Đối với người cung cấp công cụ, Luật nghiêm cấm việc sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, quảng bá, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ thương mại các thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ mà biết hoặc có cơ sở để biết rằng chúng được sử dụng nhằm vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ hữu hiệu. Quy định này nhằm ngăn chặn và cắt đứt nguồn cung các công cụ “bẻ khóa” trên thị trường, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
3. Hành vi xâm phạm thông tin quản lý quyền và trách nhiệm trung gian
Căn cứ khoản 6, khoản 7, khoản 8 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định hành vi vi phạm quyền tác giả như sau:
"Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b của Luật này."
Thông tin quản lý quyền (RMI) là dữ liệu gắn liền với tác phẩm số, bao gồm các metadata, watermark hay các chỉ dẫn về tên tác giả, chủ sở hữu và điều kiện cấp phép. Hành vi cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi RMI mà không được phép, chẳng hạn như dùng phần mềm xóa watermark trên ảnh hoặc cắt bỏ phần credit cuối video, bị cấm khi người thực hiện biết hoặc có cơ sở để biết rằng hành vi đó sẽ tạo điều kiện, xúi giục hoặc che giấu việc xâm phạm quyền tác giả. Ngoài ra, việc phân phối, nhập khẩu, phát sóng hoặc truyền đạt tác phẩm mà biết rằng RMI của tác phẩm đã bị can thiệp trái phép cũng bị nghiêm cấm, nhằm ngăn chặn lưu thông các tác phẩm “mất gốc” trên thị trường. Quy định này phản ánh cơ chế hiện đại dành cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) như mạng xã hội, dịch vụ lưu trữ hay nhà mạng viễn thông, theo đó ISP được miễn trừ trách nhiệm đối với nội dung do người dùng đăng tải nếu thực hiện đầy đủ quy trình theo Điều 198b của Luật Sở hữu trí tuệ. Ngược lại, nếu ISP nhận được thông báo hợp lệ về nội dung vi phạm mà không tiến hành gỡ bỏ hoặc ngăn chặn truy cập kịp thời, ví dụ trong vòng 24 giờ theo quy định chi tiết, họ sẽ mất quyền miễn trừ và trở thành chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý liên đới đối với hành vi xâm phạm đó.
Kết luận
Tóm lại, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chi tiết các hành vi xâm phạm quyền tác giả, bao quát cả quyền nhân thân, quyền tài sản và các nghĩa vụ liên quan đến việc khai thác, sử dụng tác phẩm. Nội dung của Điều này không chỉ nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ quyền lợi kinh tế và danh dự của tác giả, mà còn cấm các hành vi can thiệp trái phép vào biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả, xóa hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền, cũng như cấm việc sản xuất, phân phối hoặc cung cấp các công cụ phục vụ mục đích xâm phạm. Đồng thời, đặt ra nghĩa vụ đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, yêu cầu họ thực hiện đầy đủ các quy trình để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Như vậy, Điều 28 không chỉ bảo vệ quyền tác giả trước các hành vi xâm phạm trực tiếp mà còn đảm bảo cơ chế kiểm soát và trách nhiệm gián tiếp, góp phần duy trì trật tự pháp lý và công bằng trong việc sử dụng tác phẩm sáng tạo.
Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng.
Xin chân thành cảm ơn!