1. Quản trị doanh nghiệp tư nhãn

Mang bản chất pháp lý là thương nhân thể nhân, vì vậy việc quản trị doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ nhân của nó. Pháp luật không can thiệp vào công việc quản lý hay quản trị nội bộ của doanh nghiệp, mà chi đưa ra một sô' nguyên tắc liên quan để bảo vệ trật tự công cộng. Các nguyên tắc này có được do chính bản chất và đặc điếm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân quyê't định. Luật Doanh nghiệp 2020 qui định các nguyên tắc về quản lý doanh nghiệp tư nhân như sau, tuy nhiên có những vân đề phải bàn ở đó:

Những lưu ý khi cho thuê hoặc bán doanh nghiệp tư nhân?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

1.1 Nguyên tắc thứ nhất:

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định việc vận hành và sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về thuế và các khoản chi khác. Nguyên tắc này là tất yêù bởi nó là hệ quả của nguyên tắc bao trùm là nguyên tắc tự do ý chí mà trong đó có một hạt nhân lý luận hợp lý rằng con người được tự do định đoạt những gì thuộc về mình.

1.2 Nguyên tắc thứ hai:

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền lựa chọn tự mình quản lý, điều hành doanh nghiệp hoặc thuê người khác làm như vậy. Việc thuê người khác quản lý, điều hành doanh nghiệp được xem là một ngoại lệ. Do đó pháp luật kiểm soát ngoại lệ này bằng cách xác định điều kiện đăng ký với nhà chức trách có thẩm quyển về việc thuê đó, và ân định trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp dù người khác quản lý, điều hành (Điều 143, khoản 2). Vì vậy có thể hiểu, nếu doanh nghiệp tư nhân có giám đô'c, nhân viên được thuê, thì họ hành động nhân danh hay theo sự chỉ dẫn của chủ doanh nghiệp tư nhân. Nguyên tắc này là sự kéo dài của nguyên tắc thứ nhâ't.

1.3 Nguyên tắc thứ ba:

Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đon, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các tranh châp liên quan tới doanh nghiệp tư nhân (Điều 143, khoản 3). Chủ doanh nghiệp tư nhân là thương nhân. Doanh nghiệp tư nhân là cánh tay nôì dài của chủ doanh nghiệp tư nhân, không phải là một thực thể độc lập. Doanh nghiệp tư nhân là một phần trong sản nghiệp không tách rời của chủ doanh nghiệp tư nhân. Bởi những lẽ âỳ, nguyên tắc này là đương nhiên.

1.4 Nguyên tắc thứ tư:

Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp" . Việc xác định nguyên tắc này có vẻ như một sự chệch hướng của Luật Doanh nghiệp 2020. Đọc nguyên văn khiến ai đó đôi khi tưởng lầm doanh nghiệp tư nhân là một thực thê độc lập mà luôn luôn có đại diện theo pháp luật là chủ nhân của chính nó. Bản châ't pháp lý của doanh nghiệp tư nhân là cá nhân kinh doanh. Do đó hành vi của doanh nghiệp tư nhân chính là hành vi của chủ doanh nghiệp tư nhân, chứ không phải chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện cho doanh nghiệp tư nhân. Nói cách khác, chủ doanh nghiệp tư nhân (thương nhân) hành động thông qua doanh nghiệp tư nhân (phương tiện), chứ không phải doanh nghiệp tư nhân là thương nhân hành động thông qua đại diện là chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân thuê tổng giám đô'c hoặc giám đô'c doanh nghiệp tư nhân quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, thì như trên đã phân tích, anh ta là đại diện cho chủ doanh nghiệp tư nhân. Khác hẳn với câu chuyện này, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một pháp nhân, nên chủ sở hữu (thành viên) của nó có thể là đại diện cho nó.

2. Vận hành doanh nghiệp tư nhãn

Qui chế pháp lý về vận hành doanh nghiệp tư nhân hiện nay được chứa đựng trong Luật Doanh nghiệp 2020, trong một sô' văn bản hướng dẫn thi hành đạo luật này và các văn bản pháp luật khác. Cũng giống với các loại hình doanh nghiệp khác, việc vận hành doanh nghiệp tư nhân được điều tiết bởi nhiều ngành luật khác nhau. Tuy nhiên trong khuôn khổ của luật doanh nghiệp, người ta chỉ đề cập tói những quan hệ nội bộ của doanh nghiệp liên quan tới việc vận hành nó.

2.1 Thực hiện qui chê'thương nhân

Trước hết, doanh nghiệp tư nhân là thưong nhân thê’ nhân, nên phải tuân thủ nghĩa vụ của thương nhân trong việc đăng ký kinh doanh và sổ sách, chứng từ kinh doanh. Các nghĩa vụ này và nhiều nghĩa vụ khác của thương nhân nằm trong qui chế chung. Bên cạnh đó có những qui chế đặc thù cho từng loại thương nhân hay từng loại hình doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp tư nhân, pháp luật Việt Nam hiện nay yêu cầu chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ vớn đầu tư ban đầu khi đăng ký kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh, toàn bộ vốn (kể cả vôh vay) và tài sản (kể cá tài sản thuê) sử dụng vào hoạt động kinh doanh phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo yêu cầu của pháp luật .
Vôh đầu tư ban đầu có thể được tăng hoặc giảm theo ý chí của chủ doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên việc tăng giảm vôh như vậy cần phải được phản ánh trong sổ kế toán. Trừ khi kinh doanh trong ngành, nghê' mà pháp luật đòi hỏi phải có vôh pháp định, doanh nghiệp tư nhân có thể giảm vốn đầu tư xuống tháp hơn vôh đầu tư đã đăng ký. Nhung việc giảm vốn đầu tư xuôhg tháp như vậy chi được phép sau khi đã đăng ký lại vói nhà chức trách đăng ký kinh doanh.
Việc kiểm soát vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân như vậy có lẽ ít có ý nghĩa bởi doanh nghiệp tư nhân không tách rời khỏi sản nghiệp của chủ nhân của nó. Việc nhập nhèm giữa tài sản kinh doanh vói tài sản khác của chủ doanh nghiệp không giúp cho chủ doanh nghiệp thoát khỏi nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp, không kể đêh việc có bị phát giác hay không. Có lẽ ý nghĩa của việc kiểm soát này nghiêng hơn về lĩnh vực quản lý nhà nước.

2.2 Cho thuê doanh nghiệp tư nhãn

Trong quá trình vận hành, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể cho thuê doanh nghiệp của mình. Việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân là một vân đề pháp lý phức tạp. Hiện nay các luật gia ở Việt Nam có lẽ chưa có cách hiểu thôhg nhâ't về vân đề này. Việc xác định bản châ't của hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng luật đê’ giải quyết tranh châp và xem xét tới trách nhiệm đôì với các khoản nợ của doanh nghiệp.
Pháp luật Việt Nam hiện nay không đưa ra được những gợi ý đủ để giải quyết thỏa đáng trong trường hợp có tranh châp liên quan, mặc dù có hai nguyên tắc được xác lập trong Luật Doanh nghiệp 2020 là: (1) "Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp"; và (2) "Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối vói hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được qui định trong hợp đồng cho thuê". Các nguyên tắc với lời văn không rõ nghĩa này khiêh cho nhiều người nghiên cứu có cách hiểu khác nhau. Hầu hết các tác giả đều cho rằng, lời văn trong nguyên tắc thứ nhâ't cho thâỳ nhà làm luật buộc chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trong suốt quá trình cho thuê. Bởi thế có tác giả phê phán rằng, đây là một điều trái với nguyên tắc pháp lý thông thường, nên khó có thể chap nhận được. Và tác giả này luận giải, sự thực chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về tài sản cho thuê mà không chịu trách nhiệm về công việc khai thác tài sản này. Các luận giải của tác giả này xuâ't phát từ việc xem bản chất của hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân là hợp đồng cho thuê tài sản . Quan niệm khác cho rằng hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân là họp đồng cho thuê sản nghiệp thương mại, nhưng thừa nhận nguyên tắc chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn định với các khoản nợ của doanh nghiệp trong suổt thời gian thuê . Vì vậy muôn xác định rõ bản châ't của hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân thì điều cần thiết là phải xác định hay phân biệt khái niệm doanh nghiệp.
Bộ luật Thương mại Czech 1991 quan niệm doanh nghiệp là một tập hợp tài sản bao gồm cả hữu hình lẫn vô hình để kinh doanh (Điều 5). Bộ luật Dân sự Liên bang Nga được sửa đổi, bổ sung 2003 tại Điều 132 có định nghĩa: Doanh nghiệp là đối tượng của các quyền được xem là một tổ hợp tài sản sử dụng cho việc thực hiện hoạt động kinh doanh (hành vi thương mại). Pháp luật Pháp ít nhắc tới doanh nghiệp, nhưng cũng quan niệm: doanh nghiệp không có đời sông pháp lý riêng, bao gồm toàn bộ tài sản để một thê’ nhân hay pháp nhân tiêh hành hành vi thương mại, và có thể bao gồm nhiều cơ sở thương mại, bất động sản và việc tham gia vào các công ty khác... Doanh nghiệp có thể kinh doanh dưới các hình thức pháp lý khác nhau. Doanh nghiệp là một tổ chức tập hợp các nhân tô) phương tiện vật châ't, thiết bị, nhân công, vôh nhằm sản xuâ't một số của cải hoặc làm một sô' dịch vụ . Các quan niệm này khác vói định nghĩa doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp 2020. Đạo luật này đã coi doanh nghiệp là một tổ chức có tên riêng, có tài sần, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh, có nghĩa là gẩn như có một đời sống pháp lý riêng biệt. Quan niệm này dường như xem doanh nghiệp tư nhân (mà cũng được bao hàm trong đó) giông như một công ty hay một pháp nhân, trong khi vẫn khẳng định nó không có tư cách pháp nhân, vì vậy làm rắc rôì thêm cho câu chuyện xác định bản châ't của hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên doanh nghiệp tư nhân không tạo ra một sản nghiệp riêng, nên có thể hiểu hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân chính là hành vi chọ thuê tài sản hay cho thuê sản nghiệp thương mại. Thế nhung nêù xác định hành vi cho thuê doanh nghiệp tư nhân bâ't luận là hợp đổng cho thuê sản nghiệp thương mại hay là họp đổng cho thuê tài sản thì việc buộc chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong suô't quá trình cho thuê là không hợp lý.
Có tác giả xác định cho thuê doanh nghiệp tư nhân là cho thuê sản nghiệp, nhưng chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn đổì với các khoản nợ của doanh nghiệp . Tác giả này đã đổng nhất khái niệm sản nghiệp (một mốỉ quan hệ tài sản như đã nói ở trên) với khái niệm doanh nghiệp. Tuy nhiên cần phải hiểu: nếu sản nghiệp của người này chuyên cho người khác, chẳng hạn như trong trường họp thừa kê' thì người nhận sản nghiệp phải gánh chịu các nghĩa vụ tài sản bởi anh ta đã nhận tài sản.
Họp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân phải lập thành văn bản có công chứng. Trong trường họp cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân phải báo cáo bằng văn bản vói nhà chức trách đăng ký kinh doanh và nhà chức trách thuế có thẩm quyền, và phải gửi bản văn họp đổng đã nói kèm theo báo cáo.

2.3 Bán doanh nghiệp tư nhân

Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển giao doanh nghiệp bằng cách bán tài sản kinh doanh (business assets) . Nhưng Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu người bán phải thông báo bằng văn bản tới nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền về việc bán doanh nghiệp kèm theo các thông tin liên quan mà trong đó có thông tin vể tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp, và các thông tin về từng khoản nợ của từng chủ nợ. Việc bán, chuyển giao doanh nghiệp tư nhân không giúp cho chủ doanh nghiệp tư nhân trôn tránh khỏi nghĩa vụ trả nợ, trừ khi các bên mua, bán và chủ nợ có thỏa thuận khác. Các qui định này có lẽ xuất phát từ việc xem các khoản nợ của doanh nghiệp tư nhân nằm trong sản nghiệp của chủ doanh nghiệp, bởi như trên đã phân tích bản châ't pháp lý của doanh nghiệp tư nhân là thương nhân thể nhân. Các qui định này còn cho thây việc bán doanh nghiệp tư nhân có thể kèm theo cả chuyển giao nghĩa vụ. về nguyên lý việc chuyển giao nghĩa vụ cần phải được sự đồng ý của chủ nợ. Các bên mua bán còn bị ràng buộc vào việc thực hiện các qui định pháp luật về lao động. Các phân tích trên cho thây, họp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân là hợp đổng hỗn hợp hay hợp đổng phức hợp mà ở đó bao gồm nhiều yếu tố của các loại hợp đồng chuyên biệt hợp lại như hợp đổng mua bán tài sản thông thường (cả động sản hữu hình và bất động sản hữu hình), họp đổng mua bán trái quyêh...
Người mua doanh nghiệp tư nhân có thế là thương nhân hoặc người thường. Thế nhưng Luật Doanh nghiệp 2020 không hề chú ý tới việc phân loại như vậy, nên chỉ qui định đơn giản rằng: "Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo qui định của Luật này". Nêu người mua hiện đang là chủ một doanh nghiệp tư nhân khác (có nghĩa đang là thương nhân), thì có bị xem là vi phạm hay không nguyên tắc được qui định: "Mỗi một cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân"? Nêu người mua là một người thường nhưng không đủ các điều kiện để trở thành một thương nhân, thì có được mua hay không? Và nếu mua rồi thì có được đăng ký kinh doanh hay không? Có lẽ các câu hỏi này cần giải đáp bằng thực tiễn tư pháp. Luật Doanh nghiệp 2020 không có giải pháp cụ thể cho các vâh để này.

2.4 Thay đổi vốn đầu tư

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp tư nhân có thể tăng hoặc giảm vôn đầu tư đã đăng ký. Tuy nhiên việc thay đổi này phải được thông báo bằng văn bản với nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Pháp luật qui định nội dung của thông báo này phải bao gồm: các thông tin để nhận biết doanh nghiệp tư nhân; ngành, nghề kinh doanh; vôh đẩu tư đã đăng ký, và mức, thời điểm thay đổi vốn; thông tin về nhân thân và nơi thường trú của chủ doanh nghiệp tư nhân. Nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền phải’câp Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh mới trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hổ sơ hợp lệ. Cùng với việc nhận Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh mới, chủ doanh nghiệp tư nhân phải giao nộp cho người trao bản gô'c Giầy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũ.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê