Vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cũng như ô nhiễm môi trường biển sẽ áp dụng một số nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững,...Những nguyên tắc này đã được ghi nhận cả trong “luật mềm” và “luật cứng”.

1. Khái niệm “ô nhiễm môi trường biển”

Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, định nghĩa “ô nhiễm môi trường”: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.” Khái niệm này có nhiều điểm được sửa đổi, bổ sung hơn so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. “Sự biến đổi” được sửa thành “sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học” đã làm rõ thêm khái niệm “ô nhiễm môi trường”.

Khoản 4 Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982) có đưa ra khái niệm:

Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển.”

Khái niệm mà UNCLOS 1982 chỉ đề cập đến hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của con người gây ra ô nhiễm mà không nói đến nguyên nhân tự nhiên (như: động đất, sóng thần, sự phun trào của nham thạch xuống dưới biển khiến các sinh vật biển chết, gây biến đổi nguồn nước,..) gây ra ô nhiễm môi trường biển.

Như vậy, có thể hiểu rằng ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học trong môi trường biển do hành vi con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hay do tự nhiên gây ra, làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống – sức khỏe con người và tự nhiên.

2. Khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển”

Nguồn tài nguyên khoáng sản dần cạn kiệt, vùng biển ở nhiều nơi bị ô nhiễm dẫn đến những thiệt hại về môi trường ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Đó là các thiệt hại thiệt hại đến chất lượng môi trường và hệ sinh thái cũng như thiệt hại về sức khỏe, tài sản của cá nhân hoặc tổ chức do ô nhiễm môi trường gây ra.

Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “bồi thường thiệt hại”: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo luật định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là khi có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trách nhiệm này không phát sinh do vi phạm thỏa thuận hoặc hợp đồng mà các bên giao kết trước đó.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ra ô nhiễm môi trường biển chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau: lỗi, có thiệt hại xảy ra, hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường dẫn đến thiệt hại về môi trường tự nhiên, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra.

Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển là trách nhiệm dân sự khi bên có hành vi làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường biển; gây ra những thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của cá nhân và thiệt hại về tài sản của cá nhân, tổ chức thì phải bồi thường.

3. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (viết tắt là PPP - Polluter pays principle) là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được đề cập lần đầu tiên trong các khuyến nghị năm 1972 của OECD về nguyên tắc hướng dẫn liên quan đến khía cạnh kinh tế quốc tế của chính sách môi trường. Nội dung cơ bản của nguyên tắc được thể hiện ngay trong chính tên gọi của nó, đó là các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu những khoản chi phí cho việc khắc phục, cải thiện, phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Những người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, những người có hành vi xả thải vào môi trường cũng như những người có hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường đều phải trả tiền. “Người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí phát sinh do vấn đề ô nhiễm môi trường mà họ gây ra, từ đó sẽ tạo ra động lực kinh tế, điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm, làm giảm vấn đề ô nhiễm môi trường, giúp nhà nước giảm bớt chi phí cho việc giám sát” (Võ Trung Tín (2014), “Về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền: Kinh nghiệm nước ngoài và những vấn đề pháp lý đặt ra đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 06/2014, trang 26 – 34). Nguyên tắc đã được khẳng định trong Tuyên bố Rio de Janeiro của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 tại nguyên tắc 16: “Chính phủ cần nỗ lực thúc đẩy việc nội hóa chi phí môi trường, áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Nguyên tắc phòng ngừa được đề cập đến ngay Điều 63 Hiến pháp năm 2013, văn kiện pháp lý cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở Hiến pháp 2013, khoản 4 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải”.

4. Nguyên tắc phòng ngừa

Nguyên tắc phòng ngừa là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật về bảo vệ môi trường. Môi trường có thể có khả năng phục hồi hiện trạng hoặc là không thể thực hiện được hoặc rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian. Cho nên, ngăn ngừa các hành vi gây hại đến môi trường được chú trọng hơn việc áp dụng các chế tài, hình phạt đối với hành vi gây hại đó.

Phòng ngừa được hiểu là “việc chủ động ngăn chặn nhằm loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra những rủi ro gây nguy hại đối với môi trường trước khi những rủi ro đó xảy ra” (Đào Nguyễn Hương Duyên (2021), “Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường nước - thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 01, tháng 01/2021). Mục đích của nguyên tắc phòng ngừa là nhằm ngăn ngừa những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho môi trường, giảm thiểu chi phí bỏ ra để khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường do hành vi gây ô nhiễm môi trường vì chi phí phòng ngừa sẽ nhỏ hơn chi phí khắc phục, bảo vệ môi trường và phát triển nền kinh tế bền vững.

Nguyên tắc phòng ngừa cũng xuất hiện trong Tuyên bố Rio de Janeiro của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 tại nguyên tắc 15: “Áp dụng cách tiếp cận phòng ngừa”. Theo đó, các quốc gia thành viên phải áp dụng cách tiếp cận phòng ngừa trong việc bảo vệ môi trường.

Nguyên tắc phòng ngừa được đề cập đến ngay Điều 63 Hiến pháp năm 2013, văn kiện pháp lý cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở Hiến pháp 2013, khoản 4 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã ghi nhận nguyên tắc phòng ngừa: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải”.

5. Nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững

Phát triển bền vững được định nghĩa một cách rộng rãi là việc phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.

Nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững được ghi nhận trong nguyên tắc số 11 Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người năm 1972: “Chính sách môi trường của các quốc gia phải làm tốt hơn và không ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng phát triển hiện tại và tương lai của các nước đang phát triển”, sau khi nguyên tắc được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới, được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế. Ngoài ra, nguyên tắc phát triển bền vững cũng được đề cập tại nguyên tắc số 12 của Tuyên bố Rio de Janeiro của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992: “Các quốc gia cần hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế toàn cầu và giúp đỡ lẫn nhau trong việc hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững ở tất cả các quốc gia”.

Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, nguyên tắc phát triển bền vững ngày càng được chú trọng. Khoản 1 Điều 63 Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm: “…quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên…”. Trong khi đó, Luật Bảo vệ môi trường 2020 ghi nhận nguyên tắc phát triển bền vững tại khoản 2 Điều 4: “Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển”. Đối với đảm bảo phát triển bền vững môi trường  nước,  khoản  1  Điều  4  Luật  Tài  nguyên  nước  năm  2012  quy  định:  “Tài nguyên nước phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Ngoài ra, trong mối quan hệ giữa các quốc gia thì luật môi trường quốc tế còn yêu cầu các chủ thể Luật quốc tế tuân thủ nguyên tắc như: nguyên tắc bảo vệ lợi chung của cộng đồng và di sản chung của nhân loại…

(Sưu tầm và biên tập)