Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê. Mong Luật sư phân tích giúp tôi những nội dung liên quan đến tạm đình chỉ xét xử vụ án hành chính.

Cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

1. Mở đầu vấn đề

Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là một trong những quyết định rất quan trọng của giai đoạn phúc thẩm. Việc ban hành quyết định này tùy tiện, thiếu chính xác sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình giải quyết vụ án, gây kéo dài việc giải quyết phúc thẩm, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo, của Viện kiểm sát có kháng nghị. Luật Tố tụng hành chính ăm 2015 quy định về quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm tại Điều 228. Tuy nhiên, một số quy định của Luật Tố tụng hành chính về quyết định này còn hạn chế, thiếu sót gây khó khăn, lúng túng cho Tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật.

2. Căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm

Căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 228 Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Điều 228 không trực tiếp quy định mà lại viện dẫn đến các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại khoản 1 Điều 141 Luật Tố tụng hành chính. Theo đó, nếu xuất hiện một trong các căn cứ sau thì Tòa án phúc thẩm sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính:

- Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

Trong Luật Tố tụng hành chính, đương sự là cá nhân bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch. Khi cá nhân chết, cơ quan, tổ chức bị giải thể thì cũng đồng nghĩa với việc quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ cũng có nguy cơ chấm dứt nếu như không có người kế thừa. Sự kiện pháp lý chết hoặc giải thể sẽ làm cho quá trình tố tụng bị gián đoạn, việc gián đoạn này không chỉ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bản thân đương sự (đã chết hoặc bị giải thể) mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các đương sự khác có liên quan trong vụ án hành chính, do đó cần phải có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Trong trường hợp nếu chưa tìm được người thừa kế thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

- Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật

Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án phát hiện đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Việc tạm đình chỉ xét xử là hoàn toàn phù hợp vì nếu tiếp tục giải quyết sẽ không bảo đảm được quyền lợi cho các đương sự của vụ án, giải quyết thiếu khách quan và chính xác.

- Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là khoảng thời gian Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị các công việc cần thiết để đưa vụ án ra xét xử. Trong thời gian chuẩn bị, Tòa án sẽ triệu tập đương sự kháng cáo để phục vụ cho công tác mở phiên tòa xét xử. Nếu các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng mà không có đơn xin xét xử vắng mặt thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm.

- Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan

Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nội dung của vụ án có liên quan đến một vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động... hoặc một vụ việc khác có liên quan đang được Tòa án có thẩm quyền giải quyết mà nội dung, kết quả của việc giải quyết các vụ án này có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở pháp lý tiền đề cần thiết để phục vụ cho việc giải quyết vụ án hành chính thì Tòa án đang giải quyết vụ án hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để đợi kết quả giải quyết từ các cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan. Nếu Tòa án cứ tiếp tục giải quyết thì sẽ dẫn đến vụ án không thể giải quyết được hoặc giải quyết được nhưng lại không đảm bảo tính chính xác. Việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong trường hợp này là điều kiện cần thiết để Tòa án giải quyết chính xác vụ án. Hơn nữa, việc tạm đình chỉ xét xử còn tạo điều kiện cho Tòa án có thêm những nguồn tài liệu, chứng cứ cần thiết từ các cơ quan hữu quan để phục vụ cho việc xét xử phúc thẩm vụ án.

- Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án

Trong quá trình giải quyết phúc thẩm, nếu Tòa án phát hiện các chứng cứ của vụ án còn thiếu, chưa chính xác, chưa toàn diện và cần phải giám định bổ sung, giám định lại và cần yêu cầu các cơ quan tổ chức đang lưu giữ quản lý tài liệu, chứng cứ của vụ án cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ cho mình thì Tòa án được quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết phúc thẩm vụ án.

- Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó

Căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm này xuất phát từ thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được ghi nhận tại Điều 111 Luật Tố tụng hành chính. Như vậy trong quá trình giải quyết phúc thẩm vụ án, Tòa án phát hiện thấy các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án có quyền xem xét kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó, đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong thời gian chờ đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật thì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, nhằm bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Nhìn chung, các căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính được viện dẫn toàn bộ các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại khoản 1 Điều 141 Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, cần lưu ý, các căn cứ tạm đình chỉ xét xử này phải phát sinh trong giai đoạn giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính mới là căn cứ để tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm.

3. Hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm

Về hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm Luật Tố tụng hành chính tiếp tục sử dụng phương pháp dẫn chiếu đến Điều 142 Luật Tố tụng hành chính. Theo đó, việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính không làm chấm dứt việc giải quyết phúc thẩm mà chỉ tạm dừng việc giải quyết phúc thẩm ở một khoảng thời gian. Tòa án không xóa tên vụ án bị tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết phúc thẩm vụ án để theo dõi. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí phúc thẩm mà đương sự đã nộp được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

Để bảo đảm việc giải quyết vụ án được thông suốt, tránh bị gián đoạn Luật Tố tụng hành chính còn quy định trong thời gian tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án, đôn đốc theo dõi các cá nhân, tổ chức khắc phục những lý do dẫn đến tạm đình chỉ xét xử trong thời gian ngắn nhất để kịp thời tiếp tục giải quyết phúc thẩm vụ án.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 228 Luật Tố tụng hành chính còn xác định quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay. Tòa phúc thẩm phải gửi ngay quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự của vụ án.

4. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm

Luật Tố tụng hành chính không có quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản với quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bởi lẽ, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tương đối cụ thể theo từng giai đoạn. Nếu tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, nếu trước khi mở phiên tòa, việc ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa. Do đó, Luật Tố tụng hành chính cần phải có quy định phân định cụ thể thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm nhằm bảo đảm tính thống nhất, chính xác trong việc vận dụng pháp luật.

5. Một bất cập trong quy định pháp luật về tạm đình chỉ xét xử vụ án hành chính

- Một số quy định của Luật Tố tụng hành chính về hậu quả của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm thiếu chuẩn xác, dễ gây nhầm lẫn

Hậu quả lớn nhất của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính là làm tạm dừng việc giải quyết phúc thẩm vụ án hành chính, nếu ban hành không chuẩn xác có thể gây kéo dài việc giải quyết vụ án. Điều 228 quy định về hậu quả của quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm còn lủng củng, tạo ra cách hiểu không thống nhất do khoản 1 và khoản 2 Điều 228 có sự mâu thuẫn với nhau. Nếu căn cứ vào khoản 1 Điều 228 có viện dẫn đến khoản 2 Điều 141 thì quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, là đối tượng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Ngược với khoản 1, khoản 2 Điều 228 Luật Tố tụng hành chính lại khẳng định “quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay”. Như vậy trong cùng một điều luật, bản thân khoản 1, khoản 2 có nội dung quy định bất nhất với nhau.

Do đó, cần sửa khoản 1 Điều 228 như sau “Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục việc xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 141 và Điều 142 của Luật này”.

- Luật Tố tụng hành chính chưa có điều khoản quy định về thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm

Thời điểm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm là sau khi thụ lý phúc thẩm và có thể chia ra ở hai trường hợp trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính lại không có điều khoản quy định cụ thể thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm ở cả hai giai đoạn trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, việc xác định thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử thiếu thống nhất giữa các Tòa án. Trong khi đó, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại có quy định khá cụ thể về thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, cụ thể trước khi mở phiên tòa phúc thẩm thì thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là chủ tọa phiên tòa và tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Vì vậy, Luật Tố tụng hành chính cần bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hành chính. Việc bổ sung này sẽ nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất, xác định rõ trách nhiệm của người có thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm.

- Chưa quy định cụ thể về thời gian phải thông báo cho Viện kiểm sát, đương sự về việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm

Viêc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tham gia tố tụng của đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát có kháng nghị. Chính vì vậy, khi ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm phải có trách nhiệm thông báo kịp thời cho đương sự và Viện kiểm sát. Mục đích của việc thông báo này để các đương sự, Viện kiểm sát biết được để họ xem xét đánh giá mức độ chính xác của quyết định tạm đình chỉ xét xử và thực hiện quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này nếu có căn cứ cho rằng nó không chính xác, loại trừ trường hợp Tòa án tạm đình chỉ không đúng gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính chỉ quy định “quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp” mà không giới hạn cụ thể về thời gian Tòa án phải gửi quyết định đó. Do vậy, thực tế có thể xảy ra tình trạng Tòa án kéo dài thời gian thông báo về việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền được biết của đương sự và đặc biệt nó còn tạo ra sự thiếu thống nhất giữa các Tòa án trong việc xác định thời hạn thông báo nội dung tạm đình chỉ xét xử vụ án hành chính. Do vậy, Luật Tố tụng hành chính nên quy định một thời gian cụ thể, phù hợp.

- Chưa quy định rõ ràng về thời gian tiếp tục xét xử phúc thẩm khi căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được khắc phục

Việc không giới hạn cụ thể về thời gian tiếp tục giải quyết vụ án khi căn cứ tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được khắc phục sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án, mỗi Thẩm phán sẽ đặt ra các mốc thời gian khác nhau theo cách riêng của mình, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất về áp dụng pháp luật. Do vậy, để bảo đảm việc thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, bảo đảm cho việc giải quyết phúc thẩm được nhanh chóng, đúng tiến độ, Luật Tố tụng hành chính cần bổ sung thêm một điều khoản quy định về thời gian tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm được khắc phục.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).