- 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là gì?
- 2. Tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- 3. Về các mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan, tổ chức và Nhân dân
- 3.1. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng
- 3.2. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước
- 3.3. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhân dân
- 3.4. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức
- 5. Về quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- 5.1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- 5.2. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân
- 5.3. Tham gia xây dựng nhà nước
- 5.4. Hoạt động giám sát
- 5.5. Hoạt động phản biện xã hội
- 6. Về văn bản hướng dẫn thi hành Luật
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là gì?
Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định:
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc."
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm:
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.
- Khi phối hợp và thống nhất hành động, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuân theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình.
- Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ chín thông qua ngày 09/6/2015 có 08 chương, 41 điều. So với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 (chỉ có 04 chương, 18 điều) thì cả về bố cục, số lượng các chương, điều và nội dung, có thể coi như một luật hoàn toàn mới. Vì thế, sau khi Quốc hội thông qua, Chủ tịch Quốc hội đã ký chứng thực với tên Luật là Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (không gọi là Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) như dự án trình ra Quốc hội ban đầu). Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Sau đây là một số nội dung chủ yếu và những điểm mới của Luật:
2. Tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức ở trung ương và các đơn vị hành chính, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức như sau:
+ Ở trung ương có Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Ở địa phương có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã). Ở mỗi cấp có Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã thành lập Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là khu dân cư). Tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận do Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định.
3. Về các mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan, tổ chức và Nhân dân
Luật lần này đã làm rõ được các mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các cơ quan, tổ chức và Nhân dân mà trước đây quy định rải rác ở các luật khác, trong các văn bản của Đảng hoặc Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
3.1. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng
Đây là quy định hoàn toàn mới, thể chế hóa nội dung Cương lĩnh của Đảng về mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tại khoản 4, điều 4)
3.2. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước
Về cơ bản giữ như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999; đồng thời, bổ sung một số quy định cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước đã thực hiện ổn định trong thời gian qua, đó là:
- Người đứng đầu Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thông tin kịp thời cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định của pháp luật.
3.3. Về quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhân dân
Đây là điều luật hoàn toàn mới, quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp đoàn kết Nhân dân; động viên, hỗ trợ Nhân dân thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Điều này còn quy định cách thức và nội dung Nhân dân tham gia các hoạt động của Mặt trận. Đặc biệt, còn quy định Nhân dân giám sát hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để thực hiện trách nhiệm của mình với Nhân dân.
3.4. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức
Đây cũng là điều luật mới so với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999. Để mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phù hợp với thực tiễn hoạt động hiện nay của Mặt trận, Luật không chỉ quy định mối quan hệ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên mà còn đối với các tổ chức không phải là thành viên của Mặt trận.
5. Về quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Cụ thể hóa Điều 9, Hiến pháp năm 2013, Điều 3 của Luật quy định các quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bao gồm: Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội; tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước và thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân.
Các quyền và trách nhiệm này đã được quy định chi tiết thành 05 chương mới, đó là: Chương II – Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Chương III – Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; Chương IV – Tham gia xây dựng nhà nước; Chương V – Hoạt động giám sát và Chương VI – Hoạt động phản biện xã hội.
5.1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Chương này có 03 điều quy định về nguyên tắc, phương thức tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nội dung phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước và các tổ chức thành viên trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nội dung các điều luật trong chương này đã luật hóa các mối quan hệ giữa Mặt trận với nhà nước trong công tác tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được quy định tại các Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; trong Quy chế phối hợp và thống nhất hành động của các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thực tiễn tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian qua.
5.2. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân
Chương này có 04 điều quy định về trách nhiệm của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên trong việc tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; quy định về trách nhiệm của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; quy định trách nhiệm của Mặt trận tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện chính sách, pháp luật; quy định trách nhiệm của Mặt trận trong việc tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên nhân dân.
5.3. Tham gia xây dựng nhà nước
Chương này có 06 điều quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia tuyển chọn Thẩm phán, Kiểm sát viên, giới hiệu Hội thẩm nhân dân; tham gia xây dựng pháp luật; tham dự các kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Ủy ban nhân dân; tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tham gia góp ý, kiến nghị với Nhà nước. Chương này chủ yếu pháp điển hóa các quy định của pháp luật hiện hành và thể chế hóa Quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” (Ban hành kèm theo Quyết định 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị)
5.4. Hoạt động giám sát
Chương này có 07 điều quy định cụ thể về tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát; đối tượng, nội dung, phạm vi giám sát; hình thức giám sát; quyền, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát; quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát; trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; quyền, trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
Chương này thể chế hóa những nội dung cơ bản của Quy chế “Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” (Ban hành kèm theo Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) và Luật hóa một số nội dung trong Nghị quyết 85/2014/QH13 của Quốc hội khóa XIII về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc Hội và Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
5.5. Hoạt động phản biện xã hội
Chương này có 05 điều quy định cụ thể về tính chất, mục đích và nguyên tắc phản biện xã hội; đối tượng, nội dung, phạm vi phản biện xã hội; hình thức phản biện xã hội; quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động phản biện xã hội; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản được phản biện.
Chương này thể chế hóa những nội dung cơ bản của Quy chế “Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” (Ban hành kèm theo Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị)
6. Về văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Theo kỹ thuật lập pháp mới, Luật không quy định cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thi hành Luật một cách chung chung mà quy định cụ thể tại 03 điều luật Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch để hướng dẫn, đó là:
- Nghị quyết liên tịch quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 16).
- Nghị quyết liên tịch quy định chi tiết các hình thức giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 27).
- Nghị quyết liên tịch quy định chi tiết các hình thức phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 34)
Trên đây là một số nội dung chủ yếu và những điểm mới của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.