1. Các loại hình mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán được thành lập?
Theo quy định tại Điều 59 Luật Kế toán 2015, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có thể được thành lập theo ba loại hình khác nhau.
- Đầu tiên, có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Loại hình này cho phép hai cá nhân trở lên hợp tác thành lập công ty và kinh doanh dịch vụ kế toán.
- Thứ hai, doanh nghiệp cũng có thể thành lập công ty hợp danh. Công ty hợp danh cho phép nhiều cá nhân hoặc tổ chức tham gia hợp tác thành lập và điều hành doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán.
- Cuối cùng, doanh nghiệp có thể thành lập theo hình thức doanh nghiệp tư nhân. Hình thức này cho phép một cá nhân thành lập và điều hành doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán.
+ Tuy nhiên, để kinh doanh dịch vụ kế toán, doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Kế toán và nhận được Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.
+ Ngoài ra, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán không được góp vốn để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán khác, trừ khi góp vốn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam.
+ Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài, có hai hình thức kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam. Thứ nhất, họ có thể góp vốn với một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán. Thứ hai, họ có thể thành lập chi nhánh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài tại Việt Nam.
Tóm lại, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có thể được thành lập theo ba loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài có thể thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán tại Việt Nam thông qua việc góp vốn hoặc thành lập chi nhánh.
2. Trường hợp nào doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán không được cung cấp dịch vụ kế toán cho khách hàng?
- Theo Điều 68 của Luật Kế toán năm 2015, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán không được cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị kế toán khác trong một số trường hợp cụ thể. Đầu tiên, nếu người có trách nhiệm quản lý, điều hành doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, người đại diện hộ kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc người trực tiếp thực hiện dịch vụ kế toán của doanh nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ kế toán có mối quan hệ gia đình như là cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người có trách nhiệm quản lý, điều hành, kế toán trưởng của đơn vị kế toán (trừ trường hợp đơn vị kế toán là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu và các trường hợp khác do Chính phủ quy định), thì không được cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị kế toán khác.
- Thứ hai, nếu có quan hệ kinh tế, tài chính với đơn vị kế toán đó, thì cũng không được cung cấp dịch vụ kế toán. Thứ ba, nếu không đủ năng lực chuyên môn hoặc không đủ điều kiện để thực hiện dịch vụ kế toán, thì cũng không được cung cấp dịch vụ. Thứ tư, đối với trường hợp đang cung cấp dịch vụ làm kế toán trưởng cho khách hàng là tổ chức có quan hệ kinh tế, tài chính với đơn vị kế toán đó, cũng không được cung cấp dịch vụ kế toán. Thứ năm, nếu đơn vị kế toán yêu cầu thực hiện những công việc không đúng với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp hoặc không đúng với yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán, tài chính, thì không được cung cấp dịch vụ. Cuối cùng, còn có các trường hợp khác được quy định bởi pháp luật mà cũng không được cung cấp dịch vụ kế toán.
- Từ đó, ta có thể kết luận rằng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán không được cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị kế toán khác trong các trường hợp người có trách nhiệm quản lý, điều hành doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc người trực tiếp thực hiện dịch vụ kế toán của doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ làm kế toán trưởng cho khách hàng là tổ chức có quan hệ kinh tế, tài chính với đơn vị kế toán đó, theo quy định tại Điều 68 của Luật Kế toán.
3. Những thay đổi nào mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán bắt buộc phải thông báo cho Bộ tài chính?
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, việc thông báo cho Bộ Tài chính khi có những thay đổi là một nghĩa vụ bắt buộc. Thông báo này phải tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Kế toán 2015.
- Theo quy định, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán phải thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có sự thay đổi về một trong các nội dung sau đây:
+ Danh sách kế toán viên hành nghề tại doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải cung cấp danh sách của những người đang hoạt động làm kế toán viên tại doanh nghiệp.
+ Không đảm bảo một, một số hoặc toàn bộ các điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán quy định tại Điều 60 của Luật Kế toán: Nếu doanh nghiệp không thể đáp ứng được các điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán quy định tại Điều 60 của Luật Kế toán, họ phải thông báo cho Bộ Tài chính về việc này.
+ Tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp: Khi có sự thay đổi về tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, thông báo phải được gửi cho Bộ Tài chính.
+ Thông tin về giám đốc hoặc tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và tỷ lệ vốn góp của các thành viên: Bất kỳ thay đổi nào liên quan đến giám đốc hoặc tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và tỷ lệ vốn góp của các thành viên cũng phải được thông báo cho Bộ Tài chính.
+ Tạm ngừng kinh doanh dịch vụ kế toán: Trong trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán, họ cũng phải thông báo cho Bộ Tài chính.
+ Thành lập, chấm dứt hoạt động hoặc thay đổi tên, địa chỉ trụ sở chi nhánh kinh doanh dịch vụ kế toán: Khi doanh nghiệp thành lập, chấm dứt hoạt động hoặc có sự thay đổi về tên, địa chỉ trụ sở chi nhánh kinh doanh dịch vụ kế toán, thông báo phải được gửi cho Bộ Tài chính.
+ Thực hiện việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi, giải thể: Mọi thay đổi liên quan đến việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giải thể cũng phải được thông báo cho Bộ Tài chính.
- Do đó, khi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán có bất kỳ thay đổi nào được quy định tại khoản 1 Điều 66 như đã đề cập, họ phải thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày có sự thay đổi xảy ra. Việc này nhằm đảm bảo rằng Bộ Tài chính có đầy đủ thông tin về các thay đổi trong hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán của doanh nghiệp.
- Thông báo đầy đủ và chính xác các thay đổi cho Bộ Tài chính là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ quy định pháp luật của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán. Nếu doanh nghiệp không tuân thủ quy định này và không thực hiện việc thông báo đúng hạn, có thể phải chịu các hậu quả pháp lý và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Vì vậy, việc thông báo cho Bộ Tài chính khi có những thay đổi trong hoạt động kinh doanh dịch vụ kế toán là một trách nhiệm quan trọng của doanh nghiệp. Điều này đảm bảo rằng Bộ Tài chính có thông tin chính xác và đầy đủ để thực hiện giám sát và quản lý ngành kế toán, đồng thời đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán.
Xem thêm >>> Kinh doanh dịch vụ kế toán là gì? Quy định về kiểm tra hoạt động dịch vụ kế toán
Nếu quý khách hàng có bất kỳ vấn đề hay thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc luật pháp, chúng tôi xin trân trọng gợi ý quý khách hàng liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6162 hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn để được sự hỗ trợ và giải quyết một cách tốt nhất.