1. Vài nét về Albertus Magnus

Albertus Magnus (1193/1206 - 15 tháng 11 năm 1280), là một tu sĩ Dòng Đa Minh, người được biết đến với tầm hiểu biết sâu rộng. Ông là người ủng hộ cho sự tồn tại hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo. Albertô được coi là nhà triết học và thần học vĩ đại nhất của Đức thời Trung Cổ. Ông cũng là người đầu tiên trong các học giả Trung cổ áp dụng triết học của Aristotle vào tư tưởng của đạo Cơ đốc. Ông cũng là một trong số 35 người được Giáo hội Công giáo Rôma tôn phong tiến sĩ Hội thánh.

2. Sự nghiệp nghiên cứu của Albertus Magnus

Tổng thể, những tác phẩm của Albert bàn về khoa học cũng như bàn về triết học tự nhiên đều được cấu trúc dập khuôn theo mô hình cấu trúc của Aristotle. Đồng thời các tác phẩm này được trình bày dưới dạng tranh luận. Mục đích của những tranh luận này là hướng triết học của Aristotle gần với thần học hơn. Và ông là người thực thi xuất sắc tư tưởng của Giáo hoàng Gregory IX là đưa triết học của vị triết gia vĩ đại này vào triết học kinh viện để hỗ trợ các quan niệm về thần học mà thời đó gọi là "giải thích tất cả các thành phần trong triết học của Aristotle ra tiếng Latin".

Albert là một người quan trọng đối với triết học kinh viện. Tuy sứ mệnh chỉ dừng lại ở mức học giả, ông đã đặt nền tảng để người học trò Thomas Aquinas tạo nên thành quách triết học được coi là vĩ đại nhất trong lịch sử thần học cũng như trong lịch sử triết học Kitô giáo.

3. Phân tích của Albertus Magnus về lao động và chi phí

Albertus Magnus, trưởng địa phận Dominican, giám mục Regensburg, tiến sĩ trong giáo hội, là người Latin đầu tiên nổi tiếng ủng hộ Aristotle. Vị trí của ông trong lịch sử kinh tế học được đảm bảo bằng hai vấn đề: ông phục vụ trong tư cách cố vấn cho Thomas Aquinas, người sau này có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng phương Tây và những bài bình luận của ông về tác phẩm Nichomachean Ethics, nơi ông viết lại tư tưởng Hy Lạp cổ đại trong khuôn khổ xã hội thời Trung cổ, tạo ra xuất phát điểm cho tất cả các quan niệm về trao đổi và giá trị sau này. Điều Albertus đã làm là gieo trong suy nghĩ phương Tây một khái niệm dai dẳng cho rằng giá trị trong trao đổi phải tuân theo chi phí sản phẩm. Làm như thế, ông đã khởi động một chuỗi suy nghĩ liên tục nhưng không thực hiện cho đến thế kỷ 19, đặc biệt nhất là công trình của Karl Marx.

Giới bình luận ban đầu về mô hình trao đổi của Aristotle không đi quá xa câu hỏi đánh giá giá trị. Tham khảo thông thường nhất đối với cách đánh giá giá trị là tiền tệ (nummisma) và nhu cầu (indigentia). Nhưng Albertus lập luận rằng có một trật tự tự nhiên và một trật tự kinh tế trong đó mọi vật được định giá khác nhau, được duy trì trong trật tự kinh tế mà trong đó hàng hóa được đánh giá liên quan đến lao động (opus). Thông thường hơn, ông quy cho “lao động và chi phí”, đề cập đến cả hai yếu tố phí tổn trong hơi thở tương tự. Tuy nhiên sự thừa nhận đơn thuần về vai trò của phí tổn trong cách đánh giá giá trị không quan trọng như cách sử dụng mà Albertus tiến hành từ khả năng hiểu biết. Ông liên hệ chi phí sản xuất với sự kết hợp chéo trong mô hình của Aristotle, nhận xét rằng nếu giá cả thị trường không bao gồm chi phí sản xuất thì sau cùng sản xuất sẽ chấm dứt. Đây là bước nhảy vọt quan trọng trong phân tích vì hai lý do: cho rằng giá cả được giải quyết như giá trị cân bằng, và đưa ra một biến số kinh tế (nghĩa là phí tổn) như tác nhân điều tiết giá trị. Chắc hẳn Albertus đi rất xa từ việc trình bày cách giải thích tích hợp, hệ thống để định giá thị trường, nhưng dù sao giải thích của ông vẫn là bước tiến quan trọng trong thế kỷ 13. Thực tế ông mang lao động vào trong khung sườn Aristotle là sự đóng góp bền vững. Trong những chương tiếp theo trong sách này chúng ta sẽ chứng kiến các nhà kinh tế sau này đã tiến xa bao nhiêu từ khái niệm tương tự.

4. Vài nét về Thomas Aquinas

Tôma Aquinô (tiếng Ý: Tommaso d'Aquino, tiếng Latinh và tiếng Anh: Thomas Aquinas) (1225-1274), cũng phiên âm là Tômát Đacanh từ tiếng Pháp Thomas d'Aquin, là một tu sỹ, linh mục dòng Đa Minh, người Ý và là một nhà thần học và triết học có nhiều ảnh hưởng trong truyền thống chủ nghĩa kinh viện mà trong lĩnh vực này ông cũng được gọi là "Doctor Angelicus" và "Doctor Communis". Thomas Aquinas sinh ra tại lâu đài của cha mình: lâu đài Roccasecea, thuộc lãnh thổ Napoli. Phần tên "Aquinas" của tên ông là từ tên của vùng đất Aquino, vốn thuộc về gia đình ông cho đến năm 1137.

Thomas Aquinas là người đề xướng quan trọng nhất của thần học tự nhiên, và là cha đẻ của học thuyết Thomas. Ông có ảnh hưởng đáng kể trong tư tưởng phương Tây, và nhiều triết học hiện đại đã được hình thành trong quá trình phát triển hoặc phản đối ý tưởng của ông, đặc biệt là trong các lĩnh vực đạo đức, luật tự nhiên, siêu hình học, và lý luận chính trị. Không giống như nhiều trường phái trong Giáo hội thời gian đó, Thomas chấp nhận một số ý tưởng do Aristotle đưa ra - người mà ông gọi là "vị Triết gia" - và ông đã cố gắng kết hợp triết học Aristotle với các nguyên tắc của Kitô giáo. Các tác phẩm của ông được biết đến nhiều nhất là Summa Theologica (Tổng luận thần học) và Summa contra Gentiles (Tổng luận chống lại dân ngoại). Bình luận của ông về Kinh Thánh và Aristotle là một phần quan trọng trong các tác phẩm của ông. Hơn nữa, ông còn nổi bật với những bài thánh ca Thánh Thể của mình, chúng đã trở thành một phần của phụng vụ Giáo hội.

5. Phân tích của Thomas Aquinas về nhu cầu của con người

Là học trò xuất sắc của Albertus, Thomas Aquinas, thực ra không hề mâu thuẫn với thầy mình, nhưng ông nhanh chóng nhận ra mình phải cải thiện thuyết lao động của Albertus, ông tìm ra phương pháp làm điều này bằng cách nhấn mạnh nhu cầu con người (indigenlia). Thomas tìm hiểu vấn đề này ở Thánh Augustine, nhận thấy con người không phải lúc nào cũng xếp hạng vạn vật theo trật tự tự nhiên. Augustine đùa giỡn với thuyết chủ quan bằng cách cho rằng con người thường xem châu báu có giá trị lớn hơn người hầu gái (xem phần trên). Nhưng Thomas lại nghĩ đến bài học của Thánh Augustine. Trong khi Augustine bàn về trật tự tự nhiên và mang lại sự tương phản trong sự trao đổi kinh tế, thì Thomas thực hiện trái ngược, mang kinh tế học về trật tự tự nhiên. Mặc dù, Augustine có phần nào sắc sảo. Thực ra Aquinas không phân biệt giữa nhu cầu và sự thích thú -một tiếp cận có thể làm tăng tốc sự phát triển thuyết nhu cầu ban đầu nếu Aquinas chọn. Thay vào đó, Aquinas lại chọn cách chèn vào kinh tế học của ông lời dạy luân lý, một yếu tố có khuynh hướng xem nhẹ sự thích thú. Do đó, thuyết nhu cầu của Aquinas không bao giờ vượt khỏi khái niệm đơn giản về sự hữu dụng hàng hóa khi so sánh với vị trí của chúng trong trật tự hình thành tự nhiên.

Sự đóng góp chính thức của Aquinas đối với thuyết giá trị của Aristotle là sự đóng góp hai mặt trong dó yếu tố này được yếu tố kia quyết định. Trước tiên, ông tái khẳng định cách đánh giá kép hàng hóa (giá trị sử dụng so với giá trị trao đổi) mà Aristotle đã xác lập, thứ hai ông đưa nhu cầu (indigentia) vào công thức tính giá. Sự đóng góp sau cùng này đặc biệt quan trọng vì nó đánh dấu nguồn gốc thuyết giá trị phân tích nhu cầu. Aquinas cho rằng giá trị biến đổi theo nhu cầu. Indigentia trở thành một tác nhân điều tiết giá trị. Thế nhưng, sự đóng 'góp này hoàn toàn hình thức. Aquinas không giải thích thuật ngữ, ông chỉ đơn thuần tạo sự liên kết giữa nhu cầu và giá cả. Nhưng sự liên kết có giá trị như lời mời những người ủng hộ Aristotle sau này phải phát triển một thuyết giá trị hoàn hảo hơn, sau cùng họ đã làm được. Trong phân tích triết học Kinh viện tiếp theo sau Aquinas, khái niệm indigentia dần dần mở rộng thành nhu cầu hiệu quả, tính hiệu dụng và thậm chí mong muốn tuyệt đối.

Cũng nên lưu ý rằng người thầy của Aquinas là Albertus, trong thảo luận của ông về giá trị không phải là không chú ý đến nhu cầu, cũng như Aquinas không xem nhẹ phí tổn. Đúng ra đây chính là trường hợp mỗi yếu tố đến lượt chúng giúp nhau phát triển mặt đặc thù tranh luận đầy đủ hơn. Kết hợp với nhau, thảo luận khá cân bằng, mặc dù vẫn còn phải mất một đoạn đường dài mới có hiểu biết tích hợp, phân tích về cơ chế thị trường.

Thực ra, quan điểm được nhiều sử gia hiện đại về kinh tế học chia sẻ là thảo luận của Aquinas hầu như dùng để báo trước các tác động thị trường khi mang tính đối lập với sự công bằng. Thật khó hòa hợp khái niệm “giá công bằng” thời Trung cổ với khái niệm “giá thị trường” hiện đại vì giá công bằng nói chung được bảo vệ trên cơ sở quy phạm trong khi giá thị trường được xem là kết quả khách quan của các tác động khách quan. Chắc hẳn ngôn ngữ của Aquinas không giới hạn ở nhiều điểm, thúc đẩy quan niệm phổ biến cho rằng phân tích của ông là ương ngạnh. Ví dụ, nhượng bộ trước Aristotle, Aquinas viết:

“... Nếu giá cả vượt quá số lượng giá trị của món hàng, hay món hàng vượt quá giá cả, thì sự bình đẳng công bằng bị phá hủy. Vì thế, muốn bán một món hàng mắc hơn hay muốn mua món hàng rẻ hơn trị giá của nó, thì chính bản thân nó phải không công bằng và không hợp pháp... Tuy nhiên, giá công bằng của món đồ không được xác định ở một điểm chính xác mà bao gồm một vài phỏng đoán... Giá của món hàng thay đổi tùy theo sự khác nhau về địa điểm, thời gian hay rủi ro khi món hàng được phơi bày trong vận chuyển từ nơi này đến nơi khác hay trong nguyên nhân món hàng được mang đi. Theo nguyên tắc này việc mua hay bán đều không công bằng”, (trích dẫn Dempsey, trang 481).

Trong điều kiện tốt nhất, “giá công bằng” là một ý tưởng mơ hồ và không chính xác, không phù hợp với thuyết hoạt động của dải phân tích thuần túy. Nhưng các nhà kinh tế học, như Alfred Marshall chẳng hạn sau này nhắc chúng ta về tính chất, không tạo những bước nhảy vọt đột ngột, khổng lồ. Trong thời Trung cổ đúng là bò lê bò lết, nhưng dù sao cũng nhắm theo hướng đúng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)