1. Khái niệm

Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện ở Châu Âu vào giữa thế ký XV tại Bruges (Bỉ). Tại các thành phố trung tâm buôn bán ở Châu Âu, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vật phẩm hàng hóa. Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước. Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại tư dinh của một thương gia người Bỉ tên là Van De Buerzo. Đến năm 1531 chợ này chuyển về Artwerpas và phát triển sôi động. Đến giữa thế kỷ XVI, một quan đại thần của Anh Quốc đã đến quan sát và quay về nước đề thiết lập một thị trường mậu địch tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Ngày nay, thị trường chứng khoán đã xuất hiện và phát triển trên khắp thế giới, trong đó có thể kể đến những thị trường chứng khoán lớn nhất như thị trường chứng khoán New York (Mỹ), thị trường chứng khoán Tokyo (Nhật), thị trường chứng khoán Frankfurt (Đức), thị trường chứng khoán London (Anh)... Ở Việt Nam, cụm từ chứng khoán đã xuất hiện khá lâu ngay từ thời Pháp thuộc do hiện tượng du nhập của các mô hình tổ chức kinh tế từ Pháp, Anh và sau đó là Hoa Kỳ. Tùy từng quốc gia, việc định nghĩa về chứng khoán có thể khác nhau. Theo Black Law’s Dictionary, chứng khoán (security) được hiểu là công cụ chứng minh quyền sở hữu công ty (ví dụ như cổ phiếu), mối quan hệ chủ nợ đối với công ty hoặc Chính phủ (ví dụ như trái phiếu) hoặc các quyền khác của người nắm giữ (ví dụ như quyền chọn - option). Trong khi đó, Luật Chứng khoán Hoa Kỳ năm 1933 (Securities Act of 1933) lại định nghĩa chứng khoán theo nghĩa rộng “được hiểu là mọi loại giấy tờ, cổ phiếu, cổ phiếu qũy, chứng khoán tương lai, hợp đồng hoán đổi, trái phiếu, giấy nợ, bằng chứng về công nợ, chứng nhận về quyền lợi hoặc sự tham gia vào bất cứ thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận nào, chứng chỉ tín thác - thế chấp, đăng ký hoặc chứng nhận thành lập tổ chức, cổ phiếu chuyển đổi, hợp đồng đầu tư, chứng nhận quyền biểu quyết, chứng nhận đặt cọc đối với chứng khoán, lợi ích không thể phân chia (đối với dầu, khí hay bất cứ quyền đối với khoán sản khác), mọi quyền mua, bán, hợp đồng chứng khoán hai chiều, quyền chọn hoặc đặc quyền đối với chứng khoán, chứng nhận tiền gửi, hoặc nhóm các chỉ số hoặc chỉ số chứng khoán (bao gồm bắt kỳ lợi ích liên quan hoặc dựa trên cơ sở các giá trị đó), hoặc bất cứ quyền mua, bán, hoặc đồng chứng khoán hai chiều, quyền chọn hoặc đặc quyền về chứng khoán quốc gia liên quan tới ngoại tệ, hoặc nói chung là mọi lợi ích và công cụ nào được hiểu là chứng khoán, hoặc bất cứ chứng nhận lợi ích hay sự tham gia, kế cả tạm thời, dưới dạng giấy biên nhận, giấy bảo lãnh, hay chứng quyền, quyền mua hay quyền đặt mua những công cụ nói trên. Tóm lại, có thể hiểu chứng khoán là công cụ pháp lý do một tổ chức phát hành theo quy định của pháp luật để ghi nhận quyền tài sản và các lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Từ định nghĩa về chứng khoán, chúng ta có thể hiểu chào bán chứng khoán là hoạt động chào bán chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Có hai phương thức phát hành chứng khoán chủ yếu là: Chào bán chứng khoán ra công chúng (public offering) và chào bán chứng khoán riêng lẻ (private placement). Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức phát hành chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet (Điều 6 Luật Chứng khoán). Hay có thể nói, chào bán chứng khoán riêng lẻ là hoạt động chào bán chứng khoán của tổ chức phát hành cho các khách hàng đặc biệt, thường là các nhà đầu tư có tổ chức.

Trên thế giới cụm từ “Chào bán chứng khoán ra công chúng” được định nghĩa tương đối khác nhau giữa các quốc gia. Tại Mỹ, chào bán chứng khoán ra công chúng không hề được định nghĩa trong Luật Chứng khoán năm 1933 (Securities Act of 1933) mà cũng không được tòa án Mỹ định nghĩa. Tuy nhiên, theo Ủy ban Chứng khoán và thị trường chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission gọi tắt là SEC) đã định nghĩa chào bán chứng khoán ra công chúng được hiểu là hoạt động chào bán chứng khoán trong đó tất cả những người được phát hành cần được bảo vệ thông qua việc đăng ký chào bán của tổ chức phát hành với cơ quan quản lý chứng khoán. Như vậy, chào bán chứng khoán ra công chúng phân biệt với chào bán chứng khoán riêng lẻ ở việc phải đăng ký chào bán với cơ quan quản lý có thẩm quyền trước khi thực hiện phân phối chứng khoán. Tại Trung Quốc, chào bán chứng khoán được hiểu là những đợt chào bán đáp ứng các điều kiện theo luật định và phải được báo cáo với cơ quan quản lý chứng khoán trực thuộc Hội đồng Nhà nước để xem xét, xác minh và phê chuẩn. So với Mỹ, chào bán chứng khoán ra công chúng ở Trung Quốc không chỉ yêu cầu đăng ký chào bán mà còn yêu cầu các điều kiện để thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng.

Theo cuốn từ điển thuật ngữ pháp lý nổi tiếng của Mỹ Black Law Dictionary, chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động chào bán chứng khoán rộng rãi cho công chúng đầu tư. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán của một công ty hoặc một tô chức tương tự tới công chúng.

Tại Việt Nam, quan điểm một số học giả cho rằng: chào bán chứng khoán ra công chúng là hoạt động chào bán của doanh nghiệp đủ điều kiện nhằm hướng tới số đông nhà đầu tư.

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chào bán chứng khoán ra công chúng và khó có thể khẳng định định nghĩa nào chuẩn mực hơn do mỗi quốc gia, nhà nghiên cứu đều có những cách hiểu khác nhau.

2. Đặc điểm của chào bán chứng khoán ra công chúng

Từ các định nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng đã nêu ở trên rút ra một số đặc điểm của chào bán chứng khoán ra công chúng như sau:

Thứ nhất, việc chào bán chứng khoán ra công chúng chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành đã đăng ký chào bán với cơ quan nhà nước có thêm quyền quản lý thị trường chứng khoán. Theo pháp luật Việt Nam, tổ chức phải hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán nhà nước (gọi tắt là UBCKNN) (Điều 13 Luật Chứng khoán). Đặc thù của hàng hóa trên thị trường chứng khoán là sự tách rời giá trị thực của chứng khoán ra khỏi bản thân chứng khoán. Bởi vậy, việc chào bán chứng khoán ra công chúng rất dễ xảy ra các hành vi lừa đảo, lũng đoạn, giả mạo thông tin và hoạt động kiếm lời không chính đáng khác. Khi có các hành vi tiêu cực trên xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức và cả thị trường bởi tính chất đại chúng của hoạt động chào bán chứng khoán kể trên. Từ bài học thực tiễn của các nước trên thế giới trong việc để thị trường chứng khoán phát triên một cách tự phát, việc thành lập các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán là cần thiết. Các cơ quan này quản lý và giám sát thị trường chứng khoán thông qua việc thực thị các đạo luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Thứ hai, trên thế giới việc chào bán chứng khoán thường được tiến hành thông qua tổ chức trung gian là các công ty bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phát hành chứng khoán. Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết. Tương tự, đại lý phát hành chứng khoán là các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhận bán chứng khoán cho tổ chức phát hành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành. Việc chào bán chứng khoán ra công chúng có khả năng làm tăng uy tín của công ty phát hành và đem lại nhiều thuận lợi cho công ty trong kinh doanh cũng như trong huy động vốn sau này. Bởi vậy, các tổ chức phát hành thường lựa chọn một đơn vị trung gian có khả năng, chuyên môn và kinh nghiệm trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm đảm bảo khả năng thành công của các đợt chào bán chứng khoán, nhất là đối với những đợt chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) mà không tự tiến hành phân phối.

Thứ ba, việc chào bán được thực hiện trên phạm vi lớn, thu hút số lượng lớn nhà đầu tư (đến từ trong và ngoài nước và không chỉ nhà đầu tư có tổ chức mà buộc phải có cá nhà đầu tư cá nhân) bỏ vốn để mua chứng khoán được chào bán trong đợt chào bán. Đó là do bản chất về mặt kinh tế của chào bán chứng khoán ra công chúng là công khai gọi vốn từ công chúng. Công chúng ở đây được hiểu là tất cả những chủ thể có khả năng đầu tư, bao gồm nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Ngược lại, việc mở rộng phạm vi kêu gọi nhà đầu tư sẽ đảm bảo khả năng thành công của đợt chào bán chứng khoán.

Thứ tư, tổng giá trị chứng khoán chào bán thường phải đạt tới mức độ nhất định, nhằm tập trung được lượng vốn lớn, giúp tổ chức phát hành thực hiện được dự án mở rộng quy mô kinh doanh hoặc đầu tư mới. Bản thân các nhà đầu tư cần được đảm bảo rằng số vốn họ bỏ ra sẽ thu được lợi nhuận. Do đó, tổ chức phát hành cần phải chứng minh được phương án sản xuất kinh doanh khả thi và có khả năng sinh lợi. Các phương án sản xuất kinh doanh như vậy thường sẽ đòi hỏi một lượng vốn khá lớn. Bên cạnh đó, việc tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng đòi hỏi thời gian chuẩn bị và các khoản chỉ phí không nhỏ như chỉ phí bảo lãnh phát hành chứng khoán, chỉ phí tư vấn... Bởi vậy, tổng giá trị chứng khoán chào bán phải đạt giá trị tương đối lớn để bù đắp được các chỉ phí bỏ ra cũng như khi thực hiện các phương án đề ra. Hay nói cách khác, tổng giá trị chào bán ít nhất phải bằng số vốn dự tính theo phương án sản xuất cộng với chỉ phí bỏ ra đề tiến hành chào bán cùng một khoản chi phí dự phòng.

3. Mục đích của chào bán chứng khoán ra công chúng

Chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm huy động vốn cho các chủ thể phát hành chứng khoán. Thông qua chào bán chứng khoán ra công chúng, các công ty có thể tăng quy mô vốn với chi phí vốn thấp hơn so với vay thương mại. Các công ty - tổ chức phát hành có thể dễ dàng huy động vốn mà không bị giới hạn về điều kiện thế chấp và quy mô huy động vốn. Thêm nữa, việc chào bán cổ phiếu còn góp phần làm tăng năng lực tài chính của tổ chức phát hành. Có thể nói, chào bán chứng khoán ra công chúng là một trong những kênh huy động vốn cho doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất.

Chào bán chứng khoán ra công chúng là điều kiện quan trọng để tham gia niêm yết trên thị trường tập trung. Theo quy định của pháp luật, chứng khoán của các công ty đã chào bán ra công chúng được phép niêm yết trên Sở giao dịch nếu đáp ứng được điều kiện niêm yết (Điều 40 Luật Chứng khoán). Đó là do chứng khoán chào bán ra công chúng đã phải đạt yêu cầu tối thiểu về vốn và hiệu quả hoạt động nên thường được thị trường đánh giá cao. Các tiêu chuẩn về việc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Chính phủ quy định vẻ điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết (Khoản 3 Điều 40).

Chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là một phần quan trọng trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng. Báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận (Khoản 3 Điều 16). Như vậy, chào bán chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo của công ty. Điều này sẽ tạo sức ép lên các công ty phải hoạt động hiệu quả và hình thành cơ chế giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của công ty sau đó. Ngoài ra, với việc giành một lượng cô phần nhất định để phát hành cho nhân viên sẽ giúp công ty duy trì được một độ ngũ nhân viên giỏi và có động lực gắn bó với công ty, một khi họ đã trở thành cổ đông và được hưởng lãi dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh.

Chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh. Theo thông lệ quốc tế, chào bán chứng khoán ra công chúng thường gắn liền với mục tiêu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Khi đơn vị đã tham gia thị trường chứng khoán tập trung, các thông tín liên quan tới hoạt động, kết quả sản xuất kinh doanh sẽ thường xuyên xuất hiện miễn phí trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vị thế của công ty sẽ được quảng bá và nâng cao. Điều đó cho phép hàng hóa và dịch vụ của đơn vị chiếm được thị phần lớn hơn, tiếp cận với những nguồn vốn lớn hơn, “rẻ” hơn và đa dạng hơn. Tuy nhiên, đối với trường hợp công ty hoạt động yếu kém cũng sẽ dẫn tới uy tín của công ty bị giảm sút. Bởi vậy, song song với việc quảng bá hình ảnh trước công chúng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh đề duy trì công ty kinh doanh có lãi là một mục tiêu trọng tâm.

Chào bán chứng khoán ra công chúng nhầm giảm chỉ phí tiếp cận vốn. Chi phí phát hành chứng khoán cho công chúng khá cao, bao gồm các chỉ phí tư vấn phát hành, bảo lãnh phát hành, tư vấn pháp luật, in ấn, kiểm toán, chỉ phí công bố thông tin và niêm yết... Tuy nhiên, lợi ích đem lại của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng là rất lớn. Trước hết, với việc tạo dựng được hình ảnh đẹp qua đợt chào bán đầu tiên, công ty sẽ nhanh chóng và ít tốn kém hơn trong việc huy động vốn ở những lần chào bán sau đó. Tiếp theo, với việc các khách hàng và nhà cung ứng của công ty thường sẽ mua cổ phần, công ty sẽ có được thuận lợi lớn trong việc mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.

4. Vai trò của chào bản chứng khoán ra công chúng.

Chào bán chứng khoán ra công chúng là một kênh huy động vốn có nhiều ưu thế so với kênh huy động vốn thông qua vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính hay tài trợ tín dụng xuất khẩu (export credit). Điều này được thể hiện rõ nét ở vai trò của hoạt động này.

Đối với nền kinh tế và xã hội, chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bởi mục đích của doanh nghiệp khi chào bán chứng khoán ra công chúng là để huy động từ xã hội một lượng vốn lớn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hay mở rộng sản xuất kinh doanh. Nếu tạm gạt bỏ khía cạnh pháp lý sang một bên, chào bán chứng khoán ra công chúng là công khai gọi vốn từ công chúng, gồm các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trên phạm vi rộng, từ trong và ngoài nước. Điều đó đồng nghĩa với việc góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước, tạo thêm việc làm cho người lao động và đóng góp vào ngân sách một khoản thuế doanh nghiệp.

Đối với thị trường chứng khoán, chào bán chứng khoán ra công chúng là một hoạt động rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới sự tổn tại và phát triển của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp (primary market) - là nơi mua bán chứng khoán mới chào bán và thị trường thứ cấp (secondary market) - là nơi giao dịch chứng khoán đã được chào bán trên thị trường sơ cấp. Hai thị trường này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, thị trường sơ cấp là cơ sở của thị trường thứ cấp và thị trường thứ cấp tạo ra động lực cho sự phát triển của thị trường sơ cấp. Chứng khoán sau khi được chào bán ra công chúng thường được giao dịch rộng rãi, có thể mua đi bán lại dễ dàng, nghĩa là đã tạo ra tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp. Khi đó, thị trường chứng khoán mới có thể phát huy vai trò là một kênh huy động và phân bố nguồn vốn chủ yếu của nền kinh tế. Ngoài ra, việc thu hút một nguồn lực lớn từ xã hội thông qua hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra một thị trường chứng khoán đủ lớn mạnh để giảm bớt sự phụ thuộc của các doanh nghiệp vào nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng thương mại vầ các định chế tài chính khác.

Đối với tổ chức phát hành là doanh nghiệp thì chào bán chứng khoán ra công chúng là một kênh huy động vốn quan trọng giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn mà tránh được việc phụ thuộc quá nhiều vào vốn tín dụng của các định chế tài chính. Về bản chất, hoạt động này cho phép doanh nghiệp trực tiếp huy động vốn từ các cá nhân và tổ chức đang có lượng tiền nhàn rỗi mà không cần thông qua các khâu trung gian trong việc huy động. Không có chảo bán chứng khoán, các doanh nghiệp sẽ phải vay vốn ngân hàng mà về bản chất, các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp lại được huy động từ chính các chủ thể có lượng tiền nhàn rỗi kể trên. Điều đó có nghĩa là việc huy động vốn “trực tiếp” từ công chúng có thể sẽ đem lại chi phí thấp hơn so với việc huy động vốn “gián tiếp” từ công chúng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính v.v...

Hơn nữa, chào bán chứng khoán ra công chúng cũng sẻ đem lại cho doanh nghiệp các nguồn vốn dài hạn và ổn định hơn so với nguồn vốn doanh nghiệp vay từ ngân hàng. Nguyên nhân là do mục đích nắm chứng khoán của nhà đầu tư là đầu tư dài hạn, tối thiểu trên 5 năm thậm chí từ 15 tới 25 năm. Ví dụ: đối với việc chào bán chứng khoán là cổ phiếu sẽ không ràng buộc các doanh nghiệp trách nhiệm hoàn trả các cổ đông phần vốn mà họ đã góp; ngay cả với việc chào bán trái phiếu thì thời hạn hoàn trả vốn vay cũng rất dài và thường thời hạn này từ 5 năm trở lên. Thực tế, việc vay vốn từ ngân hàng có rất nhiều điểm hạn chế như thời hạn vay vốn ngắn (thường dưới 5 năm), bắt buộc phải có tải sản thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba đồng thời doanh nghiệp phải chịu áp lực trả nợ từ phía ngân hàng. Rõ ràng, chào bán chứng khoán ra công chúng đã thể hiện là một kênh huy động vốn linh hoạt và hiệu quả hơn so với việc vay vốn từ ngân hàng.

Thêm vào đó, chào bán chứng khoán ra công chúng còn có thể làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Sau khi chào bán chứng khoán ra công chúng, tính thanh khoản của chứng khoán thường sẽ tăng lên cùng với uy tín của công ty khiến cho giá bán chứng khoán trên thị trường tăng. Khi đó, giá trị thực của công ty sẽ được xác định bởi số lượng và giá chứng khoán được giao dịch trên thị trường. Việc này sẽ rất có lợi cho cổ đông khi xác định giá trị cổ phiếu của mình cũng như tạo tiền đề cho hoạt động mua bán và sát nhập (M&A) diễn ra sôi động.

5. Các hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng

Chào bán chứng khoán ra công chúng có hai hình thức: chào bán lần đầu ra công chúng (Initial public ofjering gọi tắt là IPO) và chào bán thêm chứng khoán ra công chúng (Primary offering gọi tắt là PO) (Điều 11 Luật Chứng khoán)

(1) Chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) thường được các công ty mới thành lập hay các công ty có quy mô nhỏ sử dụng khi muốn tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, IPO cũng là cách thức thường được các công ty phi đại chúng (Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phần) để chuyển đổi thành công ty đại chúng để có thêm cơ hội huy động vốn từ các nhà đầu tư nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của mình.

(2) Chào bán thêm chứng khoản ra công chúng (PO) là hoạt động chào bán chứng khoán bổ sung của công ty đại chúng (sau khi thực hiện đợt chào bán lần đầu ra công chúng - IPO). Các công ty đại chúng sử dụng hình thức này khi muốn tăng vốn điều lệ (chào bán cổ phiếu) hoặc vốn tự có (chào bán trái phiếu) trong quá trình mở rộng kinh doanh hoặc thực hiện một dự án kinh doanh cần nhiều vốn mà ở thời điểm hiện tại, nguồn vốn sẵn có của công ty không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh đó.

Bên cạnh đó, căn cứ vào loại chứng khoán được phát hành có thể chia chào bán chứng khoán ra công chúng làm ba loại: chào bán cổ phiếu ra công chúng, chào bán trái phiếu ra công chúng và chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng (Điều 12 Luật Chứng khoán). Ngoài ba loại hình thức chào bán chứng khoán cơ bản nêu trên, từ nửa sau của thế kỷ trước trên thế giới đã xuất hiện thêm hình thức chào bán sản phẩm chứng khoán mới.

Sản phẩm chứng khoán mới (hay còn gọi là các sáng tài chính - financial engineering) được định nghĩa là các chứng khoán được tạo lập bằng cách áp dụng các phương pháp chuyên biệt, đặc biệt là từ toán tài chính (mathematical finance) và thuật toán tài chính (computational finance) trong việc ứng dụng vào lĩnh vực tài chính. Tại Mỹ, các Ngân hàng đầu tư là chủ thể tiên phong trong việc phát triển các sáng tạo tài chính. Những sáng tạo tài chính nổi bật nhất trong vài thập kỷ.