Sự công bằng trong giao dịch giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, trong khi tính minh bạch đảm bảo mọi quyết định đầu tư được đưa ra dựa trên thông tin đầy đủ và chính xác. Bất kỳ hành vi nào làm sai lệch các nguyên tắc này đều gây tổn hại nghiêm trọng đến niềm tin của cộng đồng đầu tư và làm méo mó cơ chế vận hành của thị trường. Trong số đó, thao túng thị trường chứng khoán được coi là một hành vi vi phạm có tính chất đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp phá hoại sự ổn định và lành mạnh của thị trường.

 

1. Cơ sở pháp lý về tội thao túng thị trường chứng khoán

1.1. Khái niệm và các hành vi thao túng

Theo các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, "thao túng thị trường chứng khoán" được định nghĩa là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán theo Khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019. Về bản chất, đây là hành vi cố ý tạo ra sự giả tạo trong giá cả, khối lượng giao dịch hoặc thông tin nhằm đánh lừa nhà đầu tư và thu lợi bất chính.

Để cụ thể hóa khái niệm này, các văn bản pháp luật đã liệt kê chi tiết các hành vi cụ thể cấu thành tội thao túng, bao gồm:

  • Sử dụng nhiều tài khoản để mua bán liên tục: Hành vi này được thực hiện bằng cách sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác, hoặc thông đồng với nhau để liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo. Đây là một trong những thủ đoạn phổ biến nhất để làm sai lệch giá chứng khoán.
  • Giao dịch không chuyển nhượng quyền sở hữu thực sự: Hành vi này bao gồm việc thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng một loại chứng khoán trong cùng một ngày giao dịch, hoặc giao dịch mua bán chứng khoán nhưng không dẫn đến việc chuyển nhượng quyền sở hữu thực sự. Đôi khi, quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong cùng một nhóm nhằm tạo ra giá và cung cầu giả tạo.
  • Tác động vào giá mở cửa/đóng cửa: Các đối tượng thực hiện hành vi liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối tại thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó.
  • Cấu kết và lôi kéo: Đây là hành vi giao dịch chứng khoán bằng cách cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá, từ đó thao túng giá chứng khoán.
  • Tung tin đồn và thông tin sai lệch: Hành vi này bao gồm việc đưa ra ý kiến trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán hoặc tổ chức phát hành nhằm tạo ảnh hưởng đến giá sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế. Ngoài ra, việc sử dụng các phương thức giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để tạo cung cầu giả tạo cũng là hành vi thao túng bị cấm.

1.2. Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh

Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh tội thao túng trường chứng khoán được xây dựng trên một loạt các văn bản, từ cấp Luật đến các văn bản dưới luật, tạo nên một cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ.

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): Đây là văn bản pháp luật hình sự cao nhất, quy định về Tội thao túng thị trường chứng khoán tại Điều 211. Điều này quy định rõ các hành vi bị coi là tội phạm và khung hình phạt tương ứng, là căn cứ quan trọng nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Luật Chứng khoán 2019: Văn bản này đóng vai trò nền tảng, liệt kê "thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán" là một trong các hành vi bị nghiêm cấm tại Khoản 3 Điều 12.

Nghị định số 156/2020/NĐ-CP: Nghị định này quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và trường chứng khoán, bao gồm cả các hành vi thao túng. Các quy định tại Nghị định này có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các hành vi bị cấm và xác định mức xử phạt hành chính trước khi đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thông tư 117/2020/TT-BTC: Văn bản này quy định về phương pháp tính khoản thu lợi bất chính và số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và trường chứng khoán. Việc xác định khoản thu lợi bất chính là dấu hiệu định lượng bắt buộc để cấu thành tội phạm, do đó Thông tư này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tố tụng.

Mặc dù các văn bản này có sự liên kết chặt chẽ, nhưng sự tồn tại của các vụ án thao túng lớn và phức tạp gần đây đã cho thấy các quy định ở cấp Nghị định chưa đủ sức răn đe và thiếu tính ổn định cần thiết. Trong bối cảnh đó, các cơ quan chức năng đã nhận thấy sự cần thiết phải củng cố các quy định này. Bộ Tài chính đã đề xuất sửa đổi Khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán theo hướng "luật hóa" các quy định về hành vi thao túng từ Nghị định số 156/2020/NĐ-CP. Đề xuất này không chỉ đơn thuần là chuyển đổi vị trí của các quy định, mà còn phản ánh một sự chuyển mình mang tính chiến lược trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc đưa các hành vi cụ thể vào Luật sẽ nâng cao giá trị pháp lý, tăng cường tính răn đe và tạo cơ sở vững chắc hơn cho các cơ quan chức năng trong việc giám sát và xử lý vi phạm.

 

2. Các yếu tố cấu thành tội thao túng thị trường chứng khoán

Để có thể truy cứu trách nhiệm đối với người thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán thì cần thỏa mãn đủ 04 dấu hiệu dưới đây:

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội thao túng thị trường chứng khoán xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý thị trường chứng khoán. Cụ thể, khách thể của tội thao túng thị trường chứng khoán là xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý chứng khoán và thị trường chứng khoán của cá nhân, pháp nhân. 

Đối tượng tác động của tội phạm này là thị trường chứng khoán bị thao túng ở một số mã cổ phiếu dẫn đến số tiền của nhà đầu tư bị thiệt hại khi tin tưởng đầu tư mua những mã cổ phiếu này.

2.2. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội thao túng thị trường chứng khoán có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.

Cá nhân: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Một số tài liệu pháp lý đã có sự nhầm lẫn nghiêm trọng trong việc định nghĩa chủ thể của Tội thao túng trường chứng khoán với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, khi cho rằng chủ thể là người "cố ý thực hiện hành vi cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất quy định". Đây là một sự sai sót cần được làm rõ để tránh gây hiểu lầm, cho thấy sự phức tạp của việc phân loại và nhận diện tội phạm kinh tế.

Pháp nhân thương mại: Theo Khoản 4 Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này, phải chịu trách nhiệm hình sự bằng các hình phạt tiền và các biện pháp bổ sung.

2.3. Mặt khách quan của tội phạm

Tội thao túng thị trường chứng khoán được thực hiện bằng các hành vi sau:

- Người phạm tội sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo.

- Thực hiện hành vi thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chúng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo.

- Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường.

- Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán.

- Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó.

- Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán. Phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác như: việc đưa ra các thông tin hoặc cố ý tạo dựng gây sai lệch hay hiểu lầm về hoạt động giao dịch của một cổ phiếu, tìm mọi biện pháp để duy trì, ổn định mức giá chứng khoán nhằm tạo ra những lợi thế cho việc chào bán hoặc phát hành chứng khoán mới; thực hiện các giao dịch được sắp đặt trước, giao dịch giả tạo.

Các hành vi nêu trên chỉ cấu thành tội phạm này nếu thực hiện dưới hai hình thức cấu thành cơ bản là:

  • Có thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1.5 tỷ đồng:  Hiện nay, vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn về dấu hiệu thu lợi bất chính. Do đó, căn cứ để chứng minh về khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong tội thao túng thị trường chứng khoán là rất khó.
  • Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 01 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng: Ở đây, quy định chỉ đưa ra là giá trị thiệt hại của nhà đầu tư là từ 01 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng, chứ chưa nêu rõ là giá trị thiệt hại là của một nhà đầu tư hay hai nhà đầu tư hay nhiều nhà đầu tư cộng lại.

Hậu quả của hành vi thao túng thị trường chứng khoán là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội cụ thể, những thiệt hại về vật chất của hành vi thao túng chứng khoán là gây thiệt hại cho nhà đầu tư chân chính, công ty có cổ phiếu tốt muốn huy động dòng tiền từ chứng khoán để kinh doanh. Bên cạnh đó, hậu quả của hành vi thao túng thị trường chứng khoán gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, công ty phát hành cổ phiếu và còn gây ra hậu quả nghiêm trọng cho thị trường chứng khoán và sự phát triển chung của nền kinh tế.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội thao túng thị trường chứng khoán được thực hiện với lỗi cố ý. Tức là, thông qua chủ thể của tội phạm nhận thức được hành vi và hậu quả của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi với mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra là thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư khi đầu tư vào thị trường chứng khoán,

Động cơ, mục đích của người phạm tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, người phạm tội thao túng thị trường chứng khoán sẽ vì động cơ tư lợi nhằm mục đích thu lợi bất chính dẫn đến thiệt hại cho nhà đầu tư.

 

3. Khung hình phạt tội thao túng thị trường chứng khoán

Nội dung điều 211 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 như sau:

Điều 211. Tội thao túng thị trường chứng khoán

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;

b) Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;

c) Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;

d) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;

đ) Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;

e) Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên;

c) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3.1. Hình phạt đối với cá nhân

Hệ thống hình phạt đối với cá nhân phạm tội thao túng thị trường chứng khoán được quy định chi tiết tại Điều 211 Bộ luật Hình sự 2015, phân chia thành các khung hình phạt tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.

Khung 1 (Khoản 1): Người phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khung hình phạt này áp dụng cho các trường hợp thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

Khung 2 (Khoản 2): Hình phạt sẽ nghiêm khắc hơn, bao gồm phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Khung này áp dụng cho các trường hợp có tổ chức, thu lợi bất chính từ 1.500.000.000 đồng trở lên, gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 3.000.000.000 đồng trở lên, hoặc tái phạm nguy hiểm.

Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng, và bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

3.2. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 211 Bộ luật Hình sự, pháp nhân thương mại phạm tội thao túng thị trường chứng khoán sẽ bị xử lý như sau:

  • Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng.
  • Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng.
  • Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 1 đến 3 năm, hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.

Bảng so sánh chi tiết các khung hình phạt cho tội thao túng thị trường chứng khoán:

  Cá nhân Pháp nhân thương mại
Khung hình phạt cơ bản Phạt tiền 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù 6 tháng đến 3 năm Phạt tiền 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng
Khung hình phạt tăng nặng Phạt tiền 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù 2 năm đến 7 năm Phạt tiền 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng
Hình phạt bổ sung Phạt tiền 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1 đến 5 năm Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn 1 đến 3 năm; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
Dấu hiệu định lượng Thu lợi bất chính 500.000.000 đến dưới 1.500.000.000 đồng; gây thiệt hại 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng Thu lợi bất chính 500.000.000 đến dưới 1.500.000.000 đồng; gây thiệt hại 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng
Dấu hiệu tăng nặng Có tổ chức; thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại 3.000.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm Có tổ chức; thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại 3.000.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm

3.3. Mối quan hệ giữa xử phạt hành chính và hình sự

Một thực tế đáng quan tâm là mặc dù các vụ việc thao túng thị trường chứng khoán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) phát hiện và xử lý hành chính với các mức phạt tiền rất cao, nhưng số vụ được truy cứu trách nhiệm hình sự lại không nhiều. Điều này đặt ra câu hỏi về tính răn đe của pháp luật.

Sự chênh lệch này có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, nhiều hành vi vi phạm chưa đạt đến ngưỡng định lượng về thu lợi bất chính hoặc thiệt hại để cấu thành tội phạm hình sự. Thứ hai, việc xác định chính xác khoản thu lợi bất chính hoặc thiệt hại trên thực tế là một quá trình cực kỳ phức tạp về mặt kỹ thuật và pháp lý. Điều này khiến cho các cơ quan tố tụng thường chỉ có đủ cơ sở để áp dụng biện pháp xử phạt hành chính. Đối với các đối tượng thao túng chuyên nghiệp, các khoản phạt hành chính, dù lớn, có thể chỉ được coi là "chi phí kinh doanh", không đủ sức ngăn chặn hành vi tái phạm và không thể khôi phục được niềm tin đã mất của nhà đầu tư.

 

4. Vụ án tiêu biểu thao túng thị trường chứng khoán tại Việt Nam

4.1. Vụ án Trịnh Văn Quyết (FLC)

Vụ án thao túng thị trường chứng khoán của ông Trịnh Văn Quyết và đồng phạm là một trong những vụ án kinh tế lớn nhất, gây chấn động dư luận Việt Nam. Ông Quyết cùng các cộng sự đã sử dụng các thủ đoạn tinh vi, lập ra 20 doanh nghiệp và mở 450 tài khoản tại 41 công ty chứng khoán khác nhau. Nhóm này đã thao túng 5 mã cổ phiếu là AMD, HAI, GAB, FLC và ART, tạo ra cung cầu giả tạo để "thổi giá" cổ phiếu, qua đó thu lợi bất chính ước tính khoảng 700 tỷ đồng.

Kết quả xét xử, ông Trịnh Văn Quyết đã bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán và 18 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt là 21 năm tù. Tòa án cũng buộc ông Quyết phải bồi thường cho các nhà đầu tư và nộp lại khoản lợi bất chính.

4.2. Vụ án Đỗ Thành Nhân (Louis Holdings)

Tương tự vụ án FLC, vụ án Đỗ Thành Nhân, cựu Chủ tịch HĐQT Louis Holdings, cũng cho thấy mức độ tinh vi của tội phạm thao túng. Ông Nhân đã cấu kết với lãnh đạo Công ty Chứng khoán Trí Việt, thâu tóm các "cổ phiếu rác" có giá trị thấp, sau đó sử dụng 17 tài khoản giao dịch khác nhau để tạo cung cầu ảo và lôi kéo nhà đầu tư. Một thủ đoạn đáng chú ý là ông Nhân đã sử dụng mạng xã hội (nhóm Facebook "Louis Family" với hàng chục nghìn thành viên) để hô hào, tạo hiệu ứng "FOMO" (sợ bỏ lỡ) và lôi kéo các nhà đầu tư cá nhân, góp phần đẩy giá cổ phiếu tăng gấp 42 lần.

Hành vi này đã giúp nhóm ông Nhân thu lợi bất chính gần 155 tỷ đồng. Ông Đỗ Thành Nhân cùng 7 đồng phạm đã bị truy tố và xét xử về tội Thao túng thị trường chứng khoán theo Khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự.

4.3. Mối liên kết giữa các thủ đoạn thao túng và kẽ hở pháp lý

Các vụ án trên cho thấy một điểm chung xuyên suốt: thủ đoạn sử dụng hàng chục, thậm chí hàng trăm tài khoản giao dịch khác nhau tại nhiều công ty chứng khoán để che giấu danh tính và tạo ra các giao dịch ảo. Mặc dù pháp luật Việt Nam quy định mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản tại mỗi công ty chứng khoán, nhưng các quy định hiện hành chưa đủ chặt chẽ để ngăn chặn việc một cá nhân lợi dụng nhiều số điện thoại, email hoặc mượn tên người khác để mở tài khoản tại các công ty khác nhau. Kẽ hở này đã bị các đối tượng thao túng khai thác triệt để, tạo ra những "đội lái" khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc truy vết và xác định danh tính kẻ chủ mưu. Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về thiết lập và quản lý tài khoản để ngăn chặn tội phạm ngay từ khâu đầu tiên.

 

5. So sánh Pháp luật Việt Nam và Quốc tế

5.1. So sánh với Hoa Kỳ

Hoa Kỳ, với Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (SEC), có một khung pháp lý chặt chẽ và kinh nghiệm lâu năm trong việc chống thao túng thị trường. SEC định nghĩa thao túng là hành vi cố ý kiểm soát hoặc ảnh hưởng đến giá chứng khoán, tạo ra các tín hiệu giả về cung cầu. Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ dựa trên các văn bản như Đạo luật Chứng khoán 1933 và Đạo luật Giao dịch Chứng khoán 1934. Hình phạt đối với tội thao túng rất nghiêm khắc, bao gồm phạt tiền hàng triệu đô la và phạt tù lên tới 25 năm. Điều này cho thấy sự coi trọng của pháp luật Hoa Kỳ trong việc bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường.

5.2. So sánh với Singapore và Úc

Singapore và Úc cũng có các quy định mạnh mẽ để chống lại các hành vi lạm dụng thị trường. Ngoài các biện pháp xử lý hình sự, các quốc gia này còn có các cơ chế đặc thù như "trách nhiệm phái sinh của công ty" (Corporate Derivative Liability) và "hoàn trả lợi nhuận" (Disgorgement). Cơ chế "disgorgement" cho phép Tòa án ra lệnh buộc một bên thứ ba, dù có thể "vô tội" nhưng được hưởng lợi từ hành vi bất hợp pháp, phải hoàn trả lại khoản lợi nhuận đó cho các nhà đầu tư bị thiệt hại.

Pháp luật Việt Nam hiện nay thiếu một cơ chế mạnh mẽ để buộc một bên thứ ba "vô tội" nhưng được hưởng lợi từ hành vi thao túng phải hoàn trả lợi nhuận. Cơ chế trách nhiệm hình sự của Việt Nam hiện chỉ tập trung vào người thực hiện hành vi hoặc pháp nhân thương mại có liên quan trực tiếp. Thiếu cơ chế này, kẻ thao túng có thể dễ dàng chuyển lợi nhuận bất chính sang các tài khoản "vô tội" và thoát khỏi nghĩa vụ bồi thường đầy đủ cho nhà đầu tư bị thiệt hại. Cơ chế hoàn trả lợi nhuận (disgorgement) của Singapore là một giải pháp hiệu quả để đảm bảo rằng "thành quả của hành vi bất hợp pháp" không được giữ lại, và là một mô hình mà Việt Nam có thể nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật.

Bảng so sánh pháp luật về thao túng thị trường chứng khoán giữa Việt Nam, Hoa Kỳ và Singapore:

Tiêu chí Việt Nam Hoa Kỳ Singapore
Cơ quan quản lý chính Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Bộ Công an Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (SEC) Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), Cục Điều tra Thương mại (CAD)
Các hành vi thao túng

6 hành vi cụ thể (sử dụng nhiều tài khoản, giao dịch giả tạo, tung tin đồn sai lệch, v.v.)

Tạo ra tín hiệu giả về cung cầu, lan truyền thông tin sai lệch

Gian lận giao dịch, thao túng thị trường, giao dịch nội gián

Khung hình phạt (Cá nhân)

Phạt tiền 500.000.000 đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù 6 tháng đến 7 năm

Phạt tiền lên đến hàng triệu đô la, phạt tù lên đến 25 năm

Có thể truy tố hình sự hoặc xử phạt dân sự

Trách nhiệm pháp nhân

Pháp nhân thương mại có thể bị xử phạt tiền và các hình phạt bổ sung

Pháp nhân có thể bị xử phạt hành chính và hình sự

Áp dụng "trách nhiệm phái sinh của công ty" nếu không có các biện pháp phòng ngừa hợp lý

Biện pháp bồi thường Tịch thu lợi bất chính, bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư

Buộc hoàn trả lợi nhuận bất chính (disgorgement)

Buộc hoàn trả lợi nhuận bất chính (disgorgement) từ bên thứ ba

6. Khó khăn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm thao túng trường chứng khoán tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức.

  • Thách thức trong điều tra, truy tố: Hành vi thao túng ngày càng tinh vi và phức tạp, sử dụng công nghệ cao để che giấu dấu vết. Việc sử dụng nhiều tài khoản, các giao dịch ảo, và việc lan truyền tin đồn trên không gian mạng gây khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ và chứng minh mối quan hệ cấu kết giữa các đối tượng.
  • Thách thức về khoảng trống pháp lý: Các quy định hiện hành về mở và quản lý tài khoản giao dịch còn lỏng lẻo. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý (UBCKNN) và các cơ quan điều tra (Bộ Công an) chưa thực sự hiệu quả và đồng bộ, dẫn đến việc thiếu cơ chế chia sẻ thông tin kịp thời để chủ động phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm.

Để giải quyết những tồn tại và bất cập trên, việc hoàn thiện pháp luật là bước đi then chốt.

  • Đề xuất "luật hóa": Cần nhanh chóng đưa các quy định chi tiết về hành vi thao túng từ Nghị định 156/2020/NĐ-CP vào Luật Chứng khoán. Điều này sẽ giúp tăng cường tính răn đe, hiệu lực thi hành và tính ổn định của các quy định, tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho công tác xử lý vi phạm.
  • Siết chặt quy định về mở và quản lý tài khoản: Cần ban hành các quy định chặt chẽ hơn về điều kiện và quy trình mở tài khoản giao dịch. Một đề xuất khả thi là quy định mỗi số điện thoại hoặc email chỉ được sử dụng để mở duy nhất một tài khoản tại mỗi công ty chứng khoán, đồng thời tăng nặng chế tài xử phạt đối với các công ty chứng khoán vi phạm quy định này.
  • Hoàn thiện cơ chế xử lý: Nghiên cứu và bổ sung các cơ chế pháp lý mạnh mẽ tương tự các nước phát triển, như cơ chế hoàn trả lợi nhuận bất chính (disgorgement) và trách nhiệm phái sinh của pháp nhân. Điều này sẽ đảm bảo rằng những người và tổ chức được hưởng lợi từ hành vi bất hợp pháp phải bồi thường đầy đủ cho các nhà đầu tư bị thiệt hại, kể cả khi họ không trực tiếp tham gia vào hành vi thao túng.
  • Tăng cường hợp tác liên ngành: Cần thiết lập một cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả hơn giữa UBCKNN và các cơ quan tố tụng, cho phép chia sẻ thông tin theo thời gian thực để chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý sớm các hành vi thao túng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư.

Kết luận

Hệ thống pháp luật Việt Nam về tội thao túng thị trường chứng khoán đã được xây dựng trên một nền tảng khá đầy đủ, với các quy định từ Bộ luật Hình sự đến các văn bản hướng dẫn dưới luật. Tuy nhiên, sự phát triển không ngừng và tính chất phức tạp của tội phạm kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực chứng khoán, đã bộc lộ những khoảng trống và thách thức trong thực tiễn. Các vụ án tiêu biểu gần đây đã cho thấy sự cần thiết của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đặc biệt là trong việc "luật hóa" các quy định chi tiết và siết chặt các lỗ hổng về quản lý tài khoản.

Việc tăng cường tính minh bạch, công bằng và củng cố niềm tin cho nhà đầu tư không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý mà còn là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống pháp luật. Việc nghiên cứu, học hỏi và áp dụng các cơ chế tiên tiến từ quốc tế, như cơ chế hoàn trả lợi nhuận bất chính, sẽ là bước đi chiến lược để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, xử lý tội phạm thao túng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.