1. Điều tra viên là gì?
Điều tra viên trước đây được gọi bằng nhiều tên khác nhau như uỷ viên tư pháp công an theo Sắc lệnh số 431 ngày 30.7.1946 tổ chức Tư pháp Công an; uỷ viên công an quân pháp theo Sắc lệnh số 230 ngày 20.8.1948 về tổ chức công an quân pháp (tổ chức điều tra trong Bộ Quốc phòng).
Khi Bộ luật tố tụng hình sự cũ năm 1988 được ban hành thuật ngữ “Điều tra viên” mới được sử dụng. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Điều tra viên là một trong những người tiến hành tố tụng.
Theo Khoản 1 Điều 45 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định: Điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ Điều tra hình sự.
Trong đó, điều tra hình sự là quá trình thực hiện các hoạt động điều tra những người phạm tội ở mức độ nghiêm trọng và xử lý theo mức độ hình sự. Đây thường là giai đoạn thứ 2 mà những người có thẩm quyền trong các vụ tố tụng phải thực hiện nhằm đảm bảo sự công bằng, liêm chính.
Điều tra viên gồm có các ngạch: Điều tra viên sơ cấp; Điều tra viên trung cấp; Điều tra viên cao cấp.Điều tra viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm.
2. Tiêu chuẩn chung của Điều tra viên
Hiểu được khái niệm điều tra viên, nhưng nhiều người băn khoăn tiêu chuẩn của điều tra viên là gì? Để được bổ nhiệm là điều tra viên trước hết cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung sau:
1. Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
2. Có trình độ đại học An ninh, đại học Cảnh sát hoặc cử nhân luật trở lên.
3. Có thời gian làm công tác pháp luật theo quy định của Luật này.
4. Đã được đào tạo về nghiệp vụ Điều tra.
5. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của điều tra viên
Căn cứ theo Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự cụ thể bao gồm:
1. Điều tra viên được phân công tiến hành thực hiện hoạt động khởi tố và điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn:
a) Trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết các nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ về vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc thực hiện việc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch hoặc người dịch thuật;
d) Triệu tập và trực tiếp hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt hoặc người bị tạm giữ; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại hoặc đương sự;
đ) Quyết định thực hiện việc áp giải người bị giữ trong các trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bị hại; quyết định về việc giao người dưới 18 tuổi cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về việc giám sát; quyết định về việc thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;
e) Thi hành về lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc các quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản hoặc xử lý các vật chứng thu được;
g) Tiến hành việc khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng hoặc thực nghiệm điều tra;
h) Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra hoặc theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Điều tra viên sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi và quyết định của mình.
4. Những việc điều tra viên không được làm là gì?
Căn cứ theo Điều 54 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 quy định về những việc Điều tra viên không được làm cụ thể như sau:
Những việc mà pháp luật quy định về cán bộ, công chức hoặc cán bộ hoặc chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân không được làm.
Tư vấn cho người bị bắt hay người bị tạm giữ hay bị can và bị cáo, các đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án và vụ việc không đúng theo quy định của pháp luật.
Can thiệp vào việc giải quyết các vụ án, vụ việc hoặc thực hiện việc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án và vụ việc.
Đưa hồ sơ, tài liệu về vụ án hay vụ việc ra khỏi cơ quan nếu không vì các nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền cho phép thực hiện.
Tiếp các bị can, bị cáo và đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong các vụ án hay vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.
Ngoài ra căn cứ theo Điều 6 Thông tư 126/2020/TT-BCA quy định về những việc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Điều tra viên sẽ không được làm bao gồm:
Tự ý thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và đơn thư khiếu nại, tố cáo trái với quy định hoặc không được Thủ trưởng hay Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra phân công; tự ý thực hiện việc tiến hành các hoạt động điều tra không theo kế hoạch điều tra đã được Thủ trưởng hay Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phê duyệt;
Thêm hoặc bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng về tài liệu, đồ vật, vật chứng của các vụ việc, vụ án hoặc bằng các phương thức khác làm dẫn đến việc sai lệch nội dung vụ việc vụ án;
Tiếp người bị buộc tội hoặc người thân thích của người bị buộc tội hay đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác ngoài trụ sở của cơ quan Công an, trừ trường hợp do yêu cầu nghiệp vụ sẽ phải được sự đồng ý của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
Ăn uống và nhận tiền, tài sản hoặc các lợi ích khác của người bị buộc tội hay người thân thích của người bị buộc tội hay các đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác.
Lợi dụng về danh nghĩa công tác để thực hiện việc gặp gỡ, nhờ, sách nhiễu hoặc cầu lợi dưới bất kỳ các hình thức nào đối với người bị buộc tội hoặc người thân thích của người bị buộc tội, đương sự, người tham gia tố tụng khác và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan;
Bức cung hay mớm cung hoặc dùng nhục hình dưới bất kỳ các hình thức nào;
Tiết lộ về các bí mật, thông tin, tài liệu vụ án và vụ việc đang được điều tra, xác minh khi chưa được phép công khai với những người không có trách nhiệm dưới bất kỳ các hình thức nào. Trường hợp cần cung cấp về thông tin sẽ phải báo cáo và được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
Cho người đang bị tạm giữ hoặc tạm giam sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện việc liên lạc, trao đổi với người khác (kể cả trong và ngoài khu vực Trại tạm giam hay Nhà tạm giữ); trừ những trường hợp đặc biệt để phục vụ theo yêu cầu điều tra vụ án phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án và vụ việc.
Gây phiền hà để người tham gia tố tụng hoặc công dân phải chờ đợi hay đi lại nhiều lần trong vụ án hoặc vụ việc;
5. Một số điểm mới về chức danh Điều tra viên trong Công an nhân dân
Trước những yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời để phù hợp với Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2018, thay thế cho Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2006, 2009). Trong đó, Luật đã xây dựng chế định Điều tra viên trong Công an nhân dân với nhiều quy định mới, hoàn chỉnh và cụ thể hơn so với Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004. Cụ thể:
Thứ nhất, về các ngạch Điều tra viên:
- Điều 30 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 quy định Điều tra viên có ba “bậc” là Điều tra viên Sơ cấp, Điều tra viên Trung cấp và Điều tra viên Cao cấp.
- Điều 45 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã thay “các bậc điều tra viên” thành “các ngạch điều tra viên”, bao gồm: Điều tra viên Sơ cấp; Điều tra viên Trung cấp; Điều tra viên Cao cấp.
Tác giả cho rằng sự thay đổi này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định về các ngạch Thẩm phán, Kiểm sát viên trong quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Tạo nên sự thống nhất trong tên gọi các chức danh tư pháp, cũng như thu gọn đầu mối hoạt động của các cơ quan tư pháp hiện nay.
Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên:
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên.
- Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Điều 53) đã có quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên. Theo đó trong quá trình thực hiện công tác, Điều tra viên phải tuân thủ theo quy định của pháp luật đồng thời cũng phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
Việc bổ sung cụ thể các quy định này đã góp phần hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động điều tra của Điều tra viên, đồng thời cũng giúp hạn chế được tình huống do mơ hồ, không rõ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên mà để xảy ra những hậu quả xấu về pháp luật, chính trị, nghiệp vụ.
Thứ ba, về chế độ thi tuyển, tuyển chọn Điều tra viên:
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (từ Điều 29 đến Điều 32, Điều 34) quy định chế độ xét, tuyển chọn Điều tra viên. Theo đó, thành lập hội đồng tuyển chọn Điều tra viên các bậc trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
- Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (từ Điều 45 đến Điều 49, Điều 55, Điều 56) đã thay “Hội đồng tuyển chọn...” theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thành “Hội đồng thi tuyển” Điều tra viên Cao cấp, Điều tra viên Trung cấp, Điều tra viên Sơ cấp.
Theo tác giả, thay đổi từ “xét tuyển” thành “thi tuyển” Điều tra viên là một sự đổi mới đúng đắn, chính xác. Sự thay đổi này góp phần giúp Bộ Công an đánh giá đúng năng lực của cán bộ từ đó bổ nhiệm đúng người, đúng việc; đồng thời tránh các luồng tư tưởng “đến hẹn lại lên” của một số cán bộ, tạo động lực cho đội ngũ Điều tra viên học tập, không ngừng phấn đấu, hoàn thiện bản thân, nâng cao trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác điều tra, đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Thứ tư, về nhiệm kỳ Điều tra viên, hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên:
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (Điều 30) quy định nhiệm kỳ của Điều tra viên là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm; không quy định cụ thể về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên.
- Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Điều 51, 58) đã bổ sung như sau:
+ Để bảo đảm sự tương ứng với quy định của pháp luật về nhiệm kỳ của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự đã đổi mới theo hướng quy định Điều tra viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm.
+ Bổ sung quy định về hạn tuổi phục vụ của Điều tra viên theo hướng kéo dài cho những người có đủ phẩm chất, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với Bộ luật Lao động, Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 2014.
Việc quy định như thế giúp tránh tình trạng không nhiệt tình phấn đấu, học tập nâng cao trình độ của Điều tra viên; tránh một số trường hợp khi Điều tra viên đã được bổ nhiệm rồi ỷ lại, dậm chân tại chỗ, không phấn đấu học tập để tăng ngạch cao hơn.
Qua một số thay đổi trong chế định về Điều tra viên như trên, tác giả nghĩ rằng những quy định mới trên đem lại những tác động tích cực, như: Thúc đẩy tinh thần cầu tiến, tạo động lực cho đội ngũ Điều tra viên học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, pháp luật, nghiệp vụ; tạo tính công bằng trong việc bổ nhiệm Điều tra viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra, đấu tranh, phòng chống tội phạm.