Trả lời:

Hoạt động nhượng quyền thương mại, với những đặc thù của nó, đã thiết lập nên những mối quan hệ đặc biệt giữa các bên chủ thể tham gia, ở đó nhiều ngoại lệ của quan hệ thương mại trong môi trường có pháp luật cạnh tranh được chấp nhận. Vội tính chất cùng sử dụng quyền thương mại của một chủ sở hữu để cùng kinh doanh đã dẫn đến hệ quả là phát sinh một cách tất nhiên nhu cầu bảo vệ tối đa “quyền thương mại” của bên nhượng quyền trước những rủi ro có thể xảy đến từ bên nhận quyền. Vì vậy, trong chừng mực nhất định, pháp luật cạnh ttanh có sự chi phối nhất định tới quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại:

1. Những quy định của pháp luật cạnh tranh liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại

1.1 Quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Theo quy định tại Luật Cạnh tranh của Việt Nam (Luật Cạnh tranh được Quốc hội khoá 14 kì họp thứ 5 thông qua vào ngày 12/6/2018 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2019), thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:

+ Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hay gián tiếp;

+ Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá và cung ứng dịch vụ;

+ Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

+ Thỏa thuận hạn chế phát triển lã thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

+ Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan một cách trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

>> Xem thêm:  Quy định mới về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại ?

+ Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

+ Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;

+ Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

+ Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận;

+ Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận;

+ Thỏa thuận khác gây tác động có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.

Như vậy, dựa trên những quy định cụ thể về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể dẫn tới thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sau đây:

Thứ nhất, thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ thông qua việc ký một hợp đồng nhượng quyền thương mại độc quyền. Theo đó, ở trong một phạm vi, khu vực địa lý nhất định, một thị trường xác định, bên nhượng quyền chỉ được nhượng quyền thương mại của mình cho một bên nhận quyền duy nhất. Đến lượt mình, bên nhượng quyền cũng có thể yêu cầu bên nhận quyền, trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng nhượng quyền, không được phép nhận thêm bất cứ một “quyền thương mại” nào khác. Thực chất của yêu cầu này chỉ là để đảm bảo rằng việc kinh doanh bằng “quyền thương mại” của bên nhượng quyền là cách thức kinh doanh kiếm tìm lợi nhuận duy nhất đối với bên nhận quyền.

Thứ hai, thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh bằng cách thống nhất về việc từ chối mua hàng hoặc bán hàng có các bên thứ ba nếu như nhận thấy việc mua, bán hàng hoá với bên thứ ba có khả năng gây ra những thiệt hại đối với “quyền thương mại” mà các bên đang khai thác. Mặt khác, việc các bên thỏa thuận chỉ mua hàng hoá hoặc nguyên vật liệu từ những nguồn cung ứng xác định (từ bên nhượng quyền hoặc từ bên thứ ba do bên nhượng quyền chỉ định) cũng cấu thành một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh với mục đích là không cho các bên thứ ba tham gia giao dịch mà không hề quan tâm tới những điều kiện mua hàng, chất lượng hàng hoá thuận lợi mà bên thứ ba này có thể cung cấp. Những thỏa thuận kiểu này nhằm mục đích duy trì sự đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống nhượng quyền. Để có được sự đồng bộ này, chất lượng của hàng hoá, dịch vụ do các cơ sở nhượng quyền cung ứng phải không có sự khác biệt.

>> Xem thêm:  Sự ra đời và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại ?

1.2 Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, doanh nghiệp có từ 30% thị phần trên thị trường liên quan hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể được coi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Bên cạnh đó, một nhóm các doanh nghiệp cũng có thể bị coi là chiếm vị trí thống lĩnh nếu cũng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc có tổng thị phần của các doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan (không bao gồm doanh nghiệp có thị phần ít hơn 10% thị trường liên quan) đạt từ: 50% đối với hai doanh nghiệp; 65% đối với ba doanh nghiệp; 75% đối với bốn doanh nghiệp; 85% đối với năm doanh nghiệp. Việc xác định thị phần của các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp để nhận diện vị trí thống lĩnh phụ thuộc vào việc xác định thị trường liên quan. Với yếu tố thị trường liên quan, tính chất cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh dưới góc độ pháp luật cạnh tranh không phải lúc nào cũng giống như tính chất cạnh tranh thông thường. Hành vi cạnh tranh được pháp luật cạnh tranh điều chỉnh là hành vi cạnh tranh của:các đối thủ cạnh tranh trên một thị trường liên quan.

Luật Cạnh tranh Việt Nam giải thích (khoản 7 Điều 3): thị trường liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận. Thị trường liên quan được xác định trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan (khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2018).

Như vậy, một kết luận chung có thể rút ra từ những định nghĩa trên, đó là:

Thứ nhất, thị trường sản phẩm liên quan được xác định trong một phạm vi mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có những đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả tương tự, có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý.

Thứ hai, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể có thể là một thành phố, một tỉnh, một miền, một quốc gia, một khu vực kinh tế, thậm chí là toàn cầu mà ở đó hàng hoá, dịch vụ có khả năng thay thế được cho nhau một cách hợp lý với các điều kiện cạnh tranh tương tự, đặc biệt, khu vực địa lý này phải có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận khác về hàng rào kiểm soát thương mại, phương tiện phân phôi, chi phí vận chuyển và ngôn ngữ thương mại.

2. Quy định của pháp luật cạnh tranh và thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại

Xét về mặt lý thuyết liên quan đến bản chất của các hành vi mang tính chất hạn chế cạnh tranh nói chung và các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nói riêng thì rõ ràng quan hệ nhượng quyền thương mại chứa đựng những cơ hội, mà từ đó các bên có thể thực hiện một hoặc một số hành vi đi ngược lại với lợi ích của cạnh tranh. Như trên đã phân tích, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nếu có tồn tại trong quan hệ nhượng quyền thương mại chỉ có thể được thể hiện dưới hai dạng, phân biệt bởi chủ thể nắm quyền lực thị trường: một là bên nhượng quyền và hai là sự kết hợp giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền.

Đối với trường hợp thứ nhất, khi bên nhượng quyền là bên có quyền lực thị trường, sở hữu một vị trí thống lĩnh, chiếm từ 30% thị phần trên thị trường liên quan, bên này sẽ có thể thực hiện hành vi:

“Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bản hàng hoá, dịch vụ hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác, khách hàng chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác”.

Cụm từ “doanh nghiệp khác” ở đây có thể coi là để chỉ chính bên nhận quyền thương mại khi bên này bắt buộc phải chấp nhận những điều khoản mang tính chất hạn chế cạnh tranh (như đã trình bày ở mục 1), mà ví dụ đặc trưng nhất là bên này phải mua nguyên liệu, hàng hoá của bên nhượng quyền hoặc một bên thứ ba do bên nhượng quyền chỉ định. Hành vi được miêu tả tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh Việt Nam cũng có thể được bên nhượng quyền thực hiện để hạn chế cạnh tranh. Viện dẫn lý do đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền thương mại và đảm bảo không cạnh tranh trong hệ thống ây, bên nhượng quyền thương mại có thể yêu cầu các bên nhận quyền cung cấp hàng hoá, dịch vụ frên thị trường theo một mức giá nhất định. Mức giá này được xem là tương tự nhau ở tất cả các cơ sở nhượng quyền. Hành vi này, xét ở khía cạnh bản chất của quan hệ nhượng quyền thương mại, là một hành vi cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhượng quyền nói riêng và cả hệ thống nhượng quyền thương mại nói chung. Tuy nhiên, nếu bị lạm dụng sẽ có khả năng trở thành hành vi:

>> Xem thêm:  Tư vấn về nhượng quyền thương mại, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

“áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ẩn định giá bán lại tối thiểu gây ra hoặc có khả nấng gây ra thiệt hại cho khách hàng”

Đối với trường hợp thứ hai, sự kết hợp thị phần của bên nhượng quyền và bên nhận quyền trên một thị trường, nếu được coi là thị trường liên quan, ở các mức 50%, 65%, 75%, 85% trở lên, tuỳ theo số lượng doanh nghiệp kết hợp, sẽ cấu thành nên một nhóm các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh. Hành vi mà nhóm này thỏa thuận thực hiện khi giao kết hợp đồng cũng như đã thực hiện trong thực tế được xem xét nhiều nhất dưới góc độ lạm dụng vị trí thống lĩnh, đó là hành vi được Luật Cạnh tranh Việt Nam miêu tả là:

“ngăn cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác” - Điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Cạnh tranh năm 2004 và Khoản 6 Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2004.

Tuy nhiên, khi đánh giá trường hợp thứ hai này, cần thiết phải xem xét đến yếu tố “cùng hành động” của các bên. Dựa vào bản chất của quan hệ nhượng quyền thương mại có thể nhận thấy, bên nhận quyền là bên phụ thuộc khá nhiều vào những yêu cầu của bên nhượng quyền. Nếu có bất kì một sáng tạo nào trong kinh doanh, bên nhận quyền không thể thực hiện hoặc áp dụng với hệ thống nhượng quyền mà không có sự đồng ý của bên nhượng quyền. Như vậy, một hành vi bất thường trong kinh doanh mang tính chất hạn chế cạnh tranh của một hệ thống nhượng quyền thương mại xác định thông thường được bắt nguồn từ bên nhượng quyền, bên này, sau đó lại yêu cầu các bên nhận quyền trong hệ thống triển khai thực hiện. Các bên nhận quyền thực hiện những thay đổi này như một cách thực hiện điều khoản của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Chính vì vậy, theo một khía cạnh nhất định, trong quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền ở cùng một hệ thống nhượng quyền thương mại sẽ khó có thể tìm thấy dấu hiệu của việc “cùng hành động”. Các bên này thực chất là cùng nhau thực hiện một hoặc một số các thỏa thuận hợp đồng, vì vậy, hành vi tương tự như đã miêu tả ở trên của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại chỉ có thể xem xét dưới góc độ của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà thôi.

Như vậy, nhìn từ cả góc độ bản chất của thỏa thuận trong quan hệ nhượng quyền thương mại và từ góc độ tính chất hạn chế cạnh tranh của những thỏa thuận này có thể thấy rằng một số những quy định riêng áp dụng để điều chỉnh quan hệ đặc biệt nói trên là thực sự cần thiết. Nội dung của những quy định riêng đó sẽ giúp phân biệt giữa thỏa thuận trong nhượng quyền thương mại với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, đồng thời ấn định giới hạn mà nếu đi quá giới hạn đó, một thỏa thuận xuất phát từ quan hệ nhượng quyền thương mại sẽ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh do móc độ tiêu cực đáng kể đối với cạnh tranh mà thỏa thuận đó gây ra trên thực tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Các thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC và WTO ? Quyền Sở hữu trí tuệ sau khi gia nhập WTO ?