1. NLĐ bị tạm giam sau đó được bảo lãnh thì có được đi làm không?

Trong tình huống một người lao động đang bị tạm giữ hoặc tạm giam và sau đó được bảo lãnh, quy định của Bộ luật Lao động 2019 cung cấp một số hướng dẫn rõ ràng về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động và quyền lợi của người lao động trong thời gian này.

Theo Điều 30 của Bộ luật Lao động 2019, các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động bao gồm cả trường hợp người lao động bị tạm giữ hoặc tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Trong thời gian này, người lao động sẽ không được hưởng lương và các quyền lợi khác đã được ghi trong hợp đồng lao động, trừ khi hai bên đã thỏa thuận khác hoặc có quy định pháp luật khác.

Tuy nhiên, Điều 31 của Bộ luật Lao động 2019 cung cấp một cơ hội cho người lao động sau khi kết thúc thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày kết thúc thời gian tạm hoãn, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải tiếp tục nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã được ký kết, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc có quy định pháp luật khác.

Do đó, nếu người lao động được bảo lãnh và sau đó được giải thoát hoặc tạm hoãn, anh ta có quyền quay lại công ty làm việc và tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, miễn là không có sự không đồng ý từ phía công ty hoặc quy định nào khác của pháp luật. Tuy nhiên, nếu người lao động đã bị tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong thời gian bị tạm giữ hoặc tạm giam, hợp đồng lao động không được chấm dứt do tình trạng này.

Như vậy thì dựa theo quy định trên thì trường hợp mà được bảo lãnh thì vẫn có thể đến công ty làm việc hoặc là thỏa thuận tiếp tục tạm hoãn hợp đồng đều được nếu như hai bên đồng ý thỏa thuận hoãn hợp đồng đều được nếu 02 bên đồng ý thỏa thuận. Và trong trường hợp mà người lao động bị tạm giam thì phải tạm hoãn hợp đồng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động

 

2. Công ty có thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động đang bị tạm giam hay không?

Người lao động bị tạm giam thì phải tạm hoãn hợp đồng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động, nếu công ty muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải thuộc một trong những trường hợp công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 gồm:

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là một quyền lợi được quy định rõ ràng trong Bộ luật Lao động 2019. Điều này cho phép các tổ chức và doanh nghiệp có thể chấm dứt một cách độc lập các hợp đồng lao động trong một số tình huống nhất định mà không cần phải qua sự đồng ý của người lao động. Tuy nhiên, việc này cần tuân thủ đúng quy trình và các điều kiện được quy định cụ thể. Một số trường hợp mà người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bao gồm:

- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động, được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc. Điều này có nghĩa là người lao động không thực hiện công việc của mình một cách đủ đạt theo quy định, và việc này có thể được xác định thông qua các quy chế đánh giá mà người sử dụng lao động đã ban hành.

- Trong trường hợp người lao động gặp phải vấn đề về sức khỏe, nếu người lao động bị ốm đau hoặc gặp tai nạn và đã điều trị trong một khoảng thời gian nhất định mà khả năng hồi phục chưa được đảm bảo, người sử dụng lao động có thể xem xét chấm dứt hợp đồng.

- Do các yếu tố khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc yêu cầu từ cơ quan nhà nước, nếu điều này làm cho việc sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng và không thể khắc phục, người sử dụng lao động có thể chấm dứt hợp đồng

- Trong trường hợp người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định, người sử dụng lao động có thể xem xét chấm dứt hợp đồng.

- Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định pháp luật.

- Nếu người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng trong khoảng thời gian quy định.

- Trong trường hợp người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi ký kết hợp đồng lao động, và việc này ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng của người sử dụng lao động.

Tuy nhiên, mỗi trường hợp cần được xem xét cẩn thận và tuân thủ đúng quy định pháp luật để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của cả hai bên và tránh việc lạm dụng quyền lực từ bất kỳ bên nào.

Như vậy thì thì người lao động bị tạm giam thì phải tạm hoãn hợp đồng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động nếu công ty muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì cần phải thuộc vào những trường hợp công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019. 

 

3. Có thể tiến hành xử lý kỷ luật người lao động đang bị tạm giam không?

Việc xử lý kỷ luật đối với người lao động đang bị tạm giam là một vấn đề phức tạp và cần phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tính công bằng và đúng đắn. Theo quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động 2019, có rõ ràng các trường hợp mà không được xử lý kỷ luật đối với người lao động đang trong tình trạng bị tạm giam. Điều này được quy định cụ thể như sau:

- Người lao động đang bị tạm giữ, tạm giam không thể bị xử lý kỷ luật, điều này được xem là một nguyên tắc cơ bản nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong thời gian họ đang ở trong tình trạng pháp lý nhạy cảm như tạm giữ, tạm giam. Việc người lao động đang bị tạm giữ, tạm giam không thể bị xử lý kỷ luật là một nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực lao động, nhằm đảm bảo quyền lợi và tính công bằng cho người lao động trong một tình huống pháp lý nhạy cảm và đặc biệt. Điều này phản ánh sự nhạy cảm và tính nhân văn của pháp luật đối với tình trạng đặc biệt này, cũng như nhấn mạnh vai trò của công bằng và bảo vệ quyền con người trong mọi hoàn cảnh. 

- Ngoài ra, cũng không được thực hiện xử lý kỷ luật đối với người lao động trong những trường hợp nhất định khác như đang chờ kết quả điều tra từ cơ quan có thẩm quyền, hoặc trong thời gian nghỉ thai sản, nghỉ nuôi con dưới 12 tháng tuổi, hay khi đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng và có sự đồng ý của người sử dụng lao động.

- Ngoài ra, quy định cũng chỉ rõ việc không xử lý kỷ luật đối với người lao động trong trường hợp họ mắc các bệnh tâm thần hoặc mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình, để bảo vệ quyền lợi và tính nhân văn trong quan hệ lao động.

Điều này cho thấy rằng việc xử lý kỷ luật đối với người lao động đang bị tạm giam không chỉ là không thực hiện được theo quy định pháp luật, mà còn là một nguyên tắc cơ bản của công bằng và nhân văn trong quan hệ lao động. Trong trường hợp này, việc đảm bảo quyền lợi và tính nhân văn của người lao động được ưu tiên hàng đầu, và các cơ quan, tổ chức cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật để đảm bảo điều này.

Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại tư vấn 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết nhất có thể về những những vấn đề có liên quan đến người lao đồng

Bên cạnh đó thì các bạn còn có thể tham khảo thêm bài viết sau đây: Quyền lợi của người lao động khi bị đuổi việc không có lý do chính đáng?